Phóng viên (PV): Thưa nhà văn, nếu để nói điều ấn tượng nhất của mình về những bài đã được học trong SGK Ngữ văn thì đó là gì?

Nhà văn Lê Phương Liên: Tôi sinh năm 1951 tại Hà Nội. Sau giải phóng Thủ đô, chương trình giáo dục tôi được học có lớp vỡ lòng và cuốn sách đầu tiên tôi được đọc là “Vần vỡ lòng”. Trong ký ức của tôi, đó là cuốn sách đẹp lung linh với những hình vẽ đơn giản cùng chữ to để tập học vần... Ngày ấy đã có những trường tư thục mở lớp vỡ lòng dạy cho trẻ em trước khi vào cấp 1 (tiểu học). Năm học 1958-1959, tôi thi vào lớp 1 trường công lập Nguyễn Du trên phố Lý Thái Tổ. Đề thi là viết chính tả và viết các con số từ 1 đến 10. Học trò nào bị hơn 10 lỗi thì sẽ trượt. Tôi nhớ mãi bài chính tả “Ngày khai trường” cùng giọng đọc uốn lưỡi phát âm phân biệt các chữ "tr" và "ch", "s" và "x"... của cô giáo giám thị ngày ấy. Bài chỉ có 4 câu mộc mạc mà sao tôi nhớ suốt đời. Năm ấy, điểm thi được tổ chức ở ngôi trường gần nhà nên tôi đi bộ đến. Bàn tay nhỏ nắm chặt lọ mực tím. Trên vai khoác túi vải đựng giấy vở và cây bút gỗ ngòi sắt. Khi được tin đỗ vào lớp 1, tôi “tươi cười hớn hở” như em bé trong bài chính tả đã viết hôm thi. Bài chính tả này là bài đầu tiên trong sách "Tập đọc" lớp 1. Các bài tập đọc trong sách đều ngắn gọn. Tôi nhớ một bài như thế này:

"Đôi bạn

Trời mưa, đường làng trơn quá. Minh và Thảo rón rén đi. Bỗng Minh trượt chân ngã, túi sách cũng dính bùn. Thảo đỡ Minh dậy, bảo bạn: “Minh gột bùn ở quần áo đi, đưa túi xách mình chùi cho”. Xong xuôi, đôi bạn lại rảo bước tới trường".

Sau này, trong những năm chiến tranh, tôi đi học cấp 3 (THPT) cùng bạn bè trên những con đường làng, đường bờ ruộng, bờ mương trơn lầy... Những cú ngã như thế là thường. Trong tâm tư lại nhớ về bài học thời tiểu học ấy.

leftcenterrightdel
Nhà văn Lê Phương Liên. Ảnh do nhân vật cung cấp

PV: Rất nhiều thế hệ học sinh có chung những ấn tượng, kỷ niệm đáng nhớ, thậm chí theo suốt cuộc đời về những tác phẩm văn học trong SGK. Theo nhà văn, điều gì làm nên những ký ức đó?

Nhà văn Lê Phương Liên: Thú thực, tôi là người đọc sách văn học bên ngoài SGK nhiều hơn. Nhưng tôi nghĩ, những bài học trong SGK khiến mình nhớ mãi vì rất phù hợp với tâm sinh lý học sinh, từ khi còn là cô cậu học sinh với vốn tiếng Việt non nớt và sự trải nghiệm cuộc sống rất lơ ngơ. Thời tôi học tiểu học, những cuốn sách văn học thiếu nhi như: “Dế Mèn phiêu lưu ký” (Tô Hoài); “Đất rừng phương Nam” (Đoàn Giỏi); “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” (Nguyễn Huy Tưởng)... đều chưa đưa vào SGK, nhưng tôi đã đọc sách ở thư viện thiếu nhi. Thời học tiểu học và đầu THCS, tôi nhớ nhất là tục ngữ, ca dao và truyện cổ tích.

Những bài ca dao như: Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao... Hay là: Người ta đi cấy lấy công/ Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề... tôi nhớ vì giọng đọc êm ái của cô giáo. Ý nghĩa của bài ca dao theo lời cô giảng, tôi chỉ nhớ mang máng. Thế mà những câu ca dao ấy sống mãi trong ký ức. Khi lớn lên, tôi mới ngộ ra ý nghĩa ẩn trong câu chữ của những bài ca dao đó. Truyện cổ tích “Tấm Cám” đã lôi cuốn tôi từ lần đầu tiên nghe cô đọc ở lớp. Về nhà, tôi đọc lại và thuộc lòng. Rất nhiều truyện như: "Thạch Sanh", "Cây tre trăm đốt", "Sự tích Hồ Gươm"... cùng nhiều sự tích khác trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam khiến tôi rất nhớ và thỉnh thoảng tìm đọc lại như lục tìm lại một kho báu để dành suốt đời.

Khi tôi học năm cuối cấp 2 (năm 1964-1965) là thời điểm đế quốc Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc. Khi ấy, cả dân tộc đối đầu với cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử để khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh). Lúc ấy, tôi được học những áng thiên cổ hùng văn của dân tộc: Bài thơ thần-"Nam quốc sơn hà" (tương truyền của Lý Thường Kiệt); "Hịch tướng sĩ" (Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn) và "Bình Ngô đại cáo" (Nguyễn Trãi). Tâm trạng thiếu niên của tôi sôi sục như Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. Trong tâm trí vang vang những câu: Nam quốc sơn hà Nam đế cư... ("Nam quốc sơn hà"), rồi: Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa... ("Hịch tướng sĩ") và Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo... ("Bình Ngô đại cáo")... Những câu ấy như “những buổi ngày xưa vọng nói về” (Nguyễn Đình Thi), thôi thúc tôi say mê làm những việc có ích cho đất nước.

Những năm chiến tranh, tôi đi học ở làng quê thuộc vùng Thuận Thành (Bắc Ninh), được học “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm)... Tôi được sống cùng bà con nông dân, hiểu những nỗi khổ của phận làm người, hơn nữa là phận người phụ nữ. Vốn tiếng Việt của tôi được bồi đắp uyển chuyển hơn trong không gian văn hóa làng quê Kinh Bắc. Tôi bắt đầu thấm những câu thơ lục bát kỳ diệu trong “Truyện Kiều”, những câu song thất lục bát sâu sắc trong “Chinh phụ ngâm”. Tình cảm với cổ văn Việt Nam của tôi chớm nở từ tuổi hoa niên. Sau này, tôi đã trải qua nhiều năm tháng tự đọc để làm phong phú hơn vốn hiểu biết văn hóa cổ điển của dân tộc trên cơ sở thầy cô và SGK thời niên thiếu đã gieo mầm trong tâm hồn tôi.

PV: Những bài học thời niên thiếu, những câu chuyện ấy có tác động thế nào đến bản thân nhà văn sau này?

Nhà văn Lê Phương Liên: Nói riêng về cổ văn chẳng hạn. Tình yêu cổ văn của dân tộc không hề ngăn cản tôi đọc các tác phẩm văn học thế giới. Có lẽ, chính vì thích truyện cổ tích Việt Nam mà tôi thích đọc truyện cổ Andersen, truyện cổ Grimm, "Tây du ký", "Nghìn lẻ một đêm"... Tinh thần thiện lành của truyện cổ tích Việt giúp tôi hiểu được các tác phẩm văn học thế giới mang tinh thần nhân văn cao cả như bộ “Những người khốn khổ” của Victor Hugo.

Tôi nghĩ, những tác phẩm về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu văn học, văn hóa dân tộc chính là những hạt mầm gieo vào tâm hồn non trẻ để cây văn học lớn lên có gốc rễ bền chắc, cành lá vươn cao đón lấy ánh sáng và mưa Âu, gió Á. Tôi lấy hình tượng cái cây có cội rễ vững chắc để muốn nói thêm rằng không chỉ giỏi ngoại ngữ mà cần phải giỏi tiếng Việt mới có thể tiếp thu được văn hóa bốn phương.

leftcenterrightdel

Gala sân khấu hóa các tác phẩm văn học tại Trường Tiểu học Newton Goldmark (phường Phú Diễn, TP Hà Nội). Ảnh do nhà trường cung cấp 

PV: Là nhà văn gắn bó với thiếu nhi nhiều năm, cũng từng là nhà giáo, bà cho rằng văn học có ý nghĩa như thế nào với sự bồi đắp tâm hồn học sinh?

Nhà văn Lê Phương Liên: Tôi cho rằng văn học có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới nhân cách học sinh. Tôi vốn là giáo viên dạy Toán nhưng tôi nhận thức rằng môn Ngữ văn (tiếng Việt và văn học) là môn quan trọng nhất trong việc bồi đắp tâm hồn tuổi thơ. Bởi văn là từ tâm của người. Nếu giỏi toán, giỏi khoa học-công nghệ mà không có tâm thì thật nguy hiểm. Tinh thần nhân văn sẽ thấm sâu vào tâm hồn học sinh không chỉ qua các tác phẩm đã được chọn vào SGK mà còn được truyền cảm tới học sinh nhờ phương pháp giảng dạy của thầy, cô giáo trong nhà trường. Bởi thế, cùng với việc chọn lọc các tác phẩm văn học vào SGK, việc giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng tới sự phát triển nhân cách của học sinh. Nếu học sinh không thích, ngại, sợ học Ngữ văn... thì đó là điều rất đáng lo ngại cho tương lai văn hóa dân tộc Việt Nam.

PV: Thưa nhà văn, điều đó đòi hỏi những tác phẩm văn học giới thiệu tới học sinh, đặc biệt là trong SGK, cần phải đáp ứng những tiêu chí nào?

Nhà văn Lê Phương Liên: Tôi nghĩ rằng văn học Việt Nam trong sự phát triển của văn học nhân loại là một dòng chảy liên tục không hề dừng lại. Tuy vậy, dòng chảy ấy vẫn từ đầu nguồn xưa cũ chảy mãi. SGK vừa là di sản của lịch sử để lại vừa không cũ với nhịp sống mới. Do đó, SGK cần có tính chất kinh điển như những bộ sách đã có sức sống lâu dài trong lịch sử nhân loại. Nền giáo dục của Việt Nam vừa qua đã có nhịp độ cải cách, đổi mới SGK nhiều lần trong khoảng thời gian hơn nửa thế kỷ. Bác Hồ đã căn dặn: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Tôi mong sao công việc biên soạn SGK hiện nay cần có tầm nhìn 100 năm và hơn nữa.

PV: Trân trọng cảm ơn nhà văn!

DƯƠNG THU - PHƯƠNG NHUNG (thực hiện)