Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trung Kiên, đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, về vấn đề này.

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, công tác bảo đảm ANVH hiện được tổ chức và triển khai như thế nào? Trước những thay đổi nhanh chóng của môi trường số, cơ chế phối hợp đang áp dụng đã bộc lộ những bất cập gì?

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trung Kiên: Ở Việt Nam, công tác bảo đảm ANVH được triển khai thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực và sự phối hợp giữa các lực lượng bảo đảm an ninh với cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cùng các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Trong đó, lực lượng công an thực hiện chức năng bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa. Ngành văn hóa thực hiện quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, điện ảnh, di sản, lễ hội và những lĩnh vực thuộc thẩm quyền. Các cơ quan thông tin, truyền thông, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người dân cùng giữ vai trò quan trọng trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý những vấn đề liên quan đến ANVH.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, mạng xã hội, các nền tảng xuyên biên giới và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi đáng kể yêu cầu bảo đảm ANVH. Một nội dung có thể được tán phát rộng rãi chỉ trong thời gian ngắn; hình ảnh, giọng nói hoặc video giả mạo do AI tạo ra cũng gây khó khăn cho việc xác minh và xử lý. Trong khi đó, nếu việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chưa kịp thời, thẩm quyền chưa được phân định rõ hoặc quy trình phối hợp còn chồng chéo, công tác phòng ngừa sẽ khó theo kịp thực tế. Vì vậy, đổi mới cơ chế bảo đảm ANVH theo hướng hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành, tăng cường chia sẻ thông tin có kiểm soát và ứng dụng công nghệ để phát hiện sớm nguy cơ là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, phải phân định rõ vi phạm hành chính, tranh chấp dân sự và hành vi có dấu hiệu tội phạm, bảo đảm xử lý đúng pháp luật, đúng thẩm quyền, không cản trở quyền sáng tạo và các hoạt động văn hóa hợp pháp.

leftcenterrightdel

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trung Kiên. Ảnh: THU THỦY 

PV: Theo đồng chí, cần thay đổi nhận thức và cách tiếp cận như thế nào để công tác bảo đảm ANVH đáp ứng yêu cầu trong thời đại số?

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trung Kiên: Công nghệ số tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận, quảng bá và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc, nhưng đồng thời cũng xuất hiện những nguy cơ mới như thông tin sai lệch, nội dung độc hại, xâm phạm bản quyền, giả mạo hình ảnh và giọng nói hoặc lợi dụng hoạt động văn hóa để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Vì vậy, yêu cầu cốt lõi là phải chủ động phòng ngừa, nhận diện sớm nguy cơ để có biện pháp xử lý phù hợp, thay vì chỉ tập trung giải quyết khi vụ việc đã xảy ra. Muốn vậy, cần xây dựng cơ chế thích ứng với sự phát triển của công nghệ, tổ chức lực lượng hợp lý, phân định rõ trách nhiệm và bảo đảm sự phối hợp liên tục giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Công tác này không thể chỉ dựa vào một lực lượng hay một cơ quan riêng lẻ mà cần sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp, nghệ sĩ và nhân dân. Trong đó, phòng ngừa phải đi đôi với nâng cao năng lực tự bảo vệ của con người, cộng đồng trước những tác động tiêu cực trong môi trường số.

PV: Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu gắn phát triển văn hóa với xây dựng thế trận ANVH, an ninh con người và bảo vệ chủ quyền văn hóa số. Theo đồng chí, cần hiểu thế nào về thế trận ANVH trong tình hình hiện nay?

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trung Kiên: Câu hỏi trên cho thấy bảo đảm ANVH không chỉ là ngăn chặn, xử lý những hành vi vi phạm, mà còn phải gắn với việc tạo dựng sức mạnh nội sinh, củng cố bản lĩnh văn hóa và nâng cao khả năng tự bảo vệ của con người, cộng đồng và quốc gia trước những tác động phức tạp của tình hình mới.

Theo tôi, thế trận ANVH được cấu thành từ 4 yếu tố cơ bản. Thứ nhất là nền tảng văn hóa và con người. Một xã hội có hệ giá trị rõ ràng, người dân có bản lĩnh, tri thức và khả năng tiếp nhận thông tin có chọn lọc sẽ có sức đề kháng tốt hơn trước những tác động tiêu cực. Thứ hai là thể chế và cơ chế phối hợp đồng bộ. Cần phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý văn hóa, lực lượng an ninh, ngành giáo dục, báo chí, chính quyền địa phương và doanh nghiệp công nghệ; thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin, cảnh báo sớm và xử lý vi phạm đúng thẩm quyền. Sự phối hợp phải chặt chẽ nhưng không chồng chéo, không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với hoạt động sáng tạo hợp pháp. Thứ ba là năng lực bảo vệ văn hóa trên không gian số. Cần ứng dụng công nghệ trong phát hiện, xác minh và xử lý nội dung vi phạm; bảo vệ bản quyền, di sản số và chủ quyền văn hóa số; nâng cao trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới. Việc ứng dụng công nghệ phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền sáng tạo và quyền tiếp cận thông tin hợp pháp. Thứ tư là sức mạnh sáng tạo và hội nhập văn hóa. ANVH không thể chỉ dựa vào ngăn chặn mà còn phải được củng cố bằng những tác phẩm có giá trị, sản phẩm công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh và năng lực quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Chúng ta cần chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên cơ sở giữ vững bản sắc, phát huy nội lực và lựa chọn phù hợp với những giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

PV: Để những yêu cầu đó đi vào thực tiễn, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp cần được triển khai như thế nào? Cần làm gì để phát hiện sớm nguy cơ, phối hợp xử lý kịp thời và đánh giá được hiệu quả thực chất, thưa đồng chí?

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Trung Kiên: Theo tôi, cần chuyển những định hướng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW thành cơ chế vận hành cụ thể, có phân công rõ ràng, quy trình phối hợp và khả năng kiểm tra, đánh giá kết quả.

Trước hết, cần xác định đầu mối chủ trì và trách nhiệm của từng chủ thể. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa chủ trì tham mưu chính sách, quản lý các hoạt động văn hóa thuộc thẩm quyền; các cơ quan khác thực hiện nhiệm vụ theo chức trách được giao. Việc phân công phải gắn với từng loại vấn đề, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không rõ đơn vị chịu trách nhiệm chính.

Tiếp đó, cần thể chế hóa quy trình chia sẻ thông tin và cảnh báo sớm. Quy chế phối hợp phải xác định rõ loại thông tin cần trao đổi, đầu mối tiếp nhận, thời hạn phản hồi, phương thức xác minh và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu. Khi phát hiện nội dung hoặc hoạt động có dấu hiệu gây nguy hại, thông tin cần được tiếp nhận, kiểm chứng và đánh giá mức độ rủi ro trước khi chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Đối với các tình huống phức tạp trên không gian mạng, cần có quy trình phối hợp tiếp nhận phản ánh, xác minh thông tin, bảo toàn chứng cứ điện tử và chuyển xử lý đúng thẩm quyền. Cần xây dựng phương án theo từng cấp độ, từ vi phạm thông thường trong hoạt động văn hóa đến vụ việc có dấu hiệu tội phạm hoặc nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Mỗi cấp độ phải có quy trình kích hoạt phối hợp, cơ quan chủ trì phù hợp, phương thức xử lý và cơ chế báo cáo kết quả.

Đặc biệt, phải phân biệt rõ trách nhiệm quản lý hành chính với trách nhiệm điều tra, xử lý vi phạm hình sự. Mọi biện pháp đều phải có căn cứ pháp luật, bảo đảm đúng thẩm quyền, đồng thời không làm ảnh hưởng đến hoạt động sáng tạo hợp pháp và quyền, lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân.

Một yêu cầu quan trọng khác là phải cụ thể hóa cơ chế phối hợp thành chương trình hành động có mục tiêu, lộ trình, nguồn lực và tiêu chí đánh giá. Hiệu quả không nên chỉ được đo bằng số vụ việc phát hiện hoặc số nội dung vi phạm được xử lý mà còn cần xem xét thời gian tiếp nhận và phản hồi thông tin, khả năng cảnh báo trước khi hậu quả xảy ra, chất lượng phối hợp giữa các cơ quan, hiệu quả phòng ngừa và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.

Cùng với đó, cần thực hiện kiểm tra, sơ kết, tổng kết, gắn kết quả với trách nhiệm của người đứng đầu và kịp thời điều chỉnh cơ chế khi thực tiễn thay đổi. Chỉ khi trách nhiệm được xác định rõ, quy trình vận hành thông suốt và kết quả được kiểm chứng bằng những tiêu chí cụ thể, công tác bảo đảm ANVH mới có thể chuyển mạnh từ xử lý bị động sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và ngăn chặn nguy cơ ngay từ đầu.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

ĐỨC TÂM (thực hiện)