Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ khoa học (TSKH) Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch hội đồng trường, Chủ nhiệm Khoa Công nghệ Xây dựng-Giao thông, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội về vấn đề này.
Phóng viên (PV): Sau hơn 1,5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, đâu là kết quả mà Giáo sư ấn tượng?
Giáo sư, TSKH Nguyễn Đình Đức: Điều tôi ấn tượng là sự chuyển biến trong tư duy phát triển. KHCN, ĐMST và CĐS đã được đặt vào vị trí động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới, là nền tảng để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và sức mạnh nội sinh của quốc gia. Muốn tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ, Việt Nam phải chuyển từ mô hình dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng suất. Bước tiếp theo là biến nhận thức đó thành sản phẩm, doanh nghiệp công nghệ và giá trị gia tăng thực tế.
PV: Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ chỉ ra, kết quả thực tế chưa tương xứng với chủ trương, nguồn lực và quyết tâm chính trị. Theo Giáo sư, nguyên nhân nào khiến việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đang bị chậm nhịp?
Giáo sư, TSKH Nguyễn Đình Đức: Quyết tâm chính trị cao là điều kiện cần, nhưng phải có một hệ điều hành thực thi thống nhất: Mục tiêu được lượng hóa, thẩm quyền rõ ràng, dữ liệu được cập nhật, đầu tư tới tầm và trách nhiệm được truy đến sản phẩm cuối cùng.
Trước hết, khoảng cách từ chủ trương đến chương trình và hành động vẫn còn lớn. Nhiều nơi đã ban hành kế hoạch, thành lập ban chỉ đạo, tổ chức hội nghị, nhưng chưa chuyển mục tiêu lớn thành bài toán cụ thể, chưa có người chịu trách nhiệm với nguồn lực, thời hạn và sản phẩm đầu ra.
    |
 |
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức.
|
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ giữa các quy định về KHCN, ngân sách, đầu tư công, đấu thầu, mua sắm, tài sản công, thuế và sở hữu trí tuệ. Một nhiệm vụ đúng về chuyên môn vẫn bị chậm phê duyệt, gặp khó khi lập dự toán, mua thiết bị, thuê chuyên gia, điều chỉnh nội dung hoặc thương mại hóa kết quả.
Chưa kể tới năng lực tổ chức thực hiện không đồng đều. KHCN và CĐS đòi hỏi người quản lý hiểu cả chuyên môn, quản trị dự án, tài chính. Trong khi ở một số nơi, cán bộ phụ trách còn thiếu quyền hạn, thiếu kỹ năng, thiếu hiểu biết thực tế.
Ngoài ra, chúng ta vẫn đánh giá quá trình nhiều hơn kết quả. Khi cơ quan thực hiện chủ yếu lo đủ hồ sơ, đúng thủ tục, họ sẽ chọn phương án an toàn, ít đột phá. Nếu áp dụng tư duy quản lý hành chính thông thường thì khó tạo ra công nghệ mới.
PV: Nghị quyết số 57-NQ/TW và Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ đều yêu cầu người đứng đầu trực tiếp phụ trách, đồng thời coi kết quả thực hiện là tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ, tập thể và người đứng đầu. Cần thiết chế hóa trách nhiệm người đứng đầu và xây dựng cơ chế đánh giá như thế nào, thưa Giáo sư?
Giáo sư, TSKH Nguyễn Đình Đức: Yêu cầu đó cần được cụ thể hóa thành hệ thống chỉ tiêu có thể kiểm chứng bằng dữ liệu. Phải thiết chế hóa trách nhiệm người đứng đầu theo nguyên tắc: Có quyền quyết định thì phải chịu trách nhiệm về kết quả; được giao nhiệm vụ thì phải có đủ nguồn lực và công cụ để hoàn thành.
Mỗi bộ, ngành, địa phương, mỗi trường đại học, doanh nghiệp cần có bảng chỉ tiêu hằng năm về KHCN, ĐMST và CĐS. Chỉ tiêu phải phản ánh kết quả thực chất, như: Số thủ tục được cắt giảm; tỷ lệ dữ liệu được kết nối; số công nghệ được làm chủ; số sản phẩm được thương mại hóa; doanh thu từ sản phẩm mới; số doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D)...
Đặc biệt, phải phân biệt rõ giữa thất bại do rủi ro khoa học với thất bại do thiếu trách nhiệm, hoặc do vướng mắc thể chế, hoặc không đạt mục tiêu do rủi ro khoa học dù đã thực hiện đúng quy trình. Tôi đề xuất xây dựng bảng điều hành số quốc gia, công khai tiến độ. Làm tốt cần được trao thêm quyền và nguồn lực; làm hình thức, trì hoãn hoặc né tránh phải bị xử lý.
    |
 |
| Sinh viên các ngành kỹ thuật, công nghệ thực hành tại phòng lab Muntech Service, phường Đại Mỗ, TP Hà Nội. Ảnh: LÊ VƯỢNG |
PV: Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ cũng nhấn mạnh việc phải tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế. Giáo sư nhận thấy điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW là gì?
Giáo sư, TSKH Nguyễn Đình Đức: Điểm nghẽn lớn nhất theo tôi là sự chưa tương thích giữa bản chất của hoạt động KHCN, ĐMST với phương thức quản lý tài chính công truyền thống. Nghiên cứu khoa học không thể dự báo tuyệt đối kết quả và chi phí ngay từ đầu. Tuy nhiên, nhiều nhiệm vụ KHCN vẫn bị quản lý như dự án mua sắm thông thường: Dự toán quá chi tiết, quản lý theo chỉ tiêu đã được duyệt, điều chỉnh khó, mua vật tư thiết bị mất thời gian, sử dụng tài sản và phân chia quyền sở hữu kết quả còn phức tạp... Hệ quả là tiền đã bố trí nhưng chậm giải ngân, còn nhà khoa học phải dành nhiều thời gian cho thủ tục.
Bên cạnh đó, có những điểm nghẽn quan trọng khác cần được tháo gỡ:
Thứ nhất là chưa ưu tiên đầu tư mạnh cho R&D. Theo ước tính, chưa tới 15% ngân sách KHCN được bố trí cho R&D, tức là khoảng 0,15% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Chúng ta còn khoảng cách khá xa về năng lực R&D so với thế giới.
Thứ hai là thiếu hệ thống các phòng thí nghiệm tiên tiến, hiện đại và chậm đầu tư cho các nhóm nghiên cứu mạnh. Nhà khoa học và các trường đại học có vai trò then chốt nhưng cơ chế sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát) còn chưa được triển khai mạnh mẽ, nên nhiều kết quả mới dừng ở công bố, chưa có cơ chế để nhà khoa học dấn thân, triển khai nghiên cứu phát triển tiếp thành các sản phẩm.
Thứ ba là mô hình liên kết Nhà nước, doanh nghiệp, nhà trường và cả nhà khoa học chậm được triển khai quyết liệt. Doanh nghiệp cần bài toán công nghệ, thị trường và vốn. Đại học có tri thức, nhân lực và nền tảng nghiên cứu. Nhà nước có vai trò kiến tạo thể chế, đặt hàng và chia sẻ rủi ro. Nếu 3 chủ thể này vẫn vận hành rời rạc, hệ sinh thái ĐMST khó tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh.
PV: Chúng ta cần tháo gỡ những điểm nghẽn đó như thế nào để khơi thông nguồn lực, tạo bước phát triển bứt tốc gắn với mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng xác định, thưa Giáo sư?
Giáo sư, TSKH Nguyễn Đình Đức: Cốt lõi là chuyển từ tiền kiểm nặng sang quản lý theo mục tiêu, sản phẩm và hậu kiểm; thực hiện khoán chi thực chất, trao quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ. Đồng thời, áp dụng cơ chế khác nhau cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm công nghệ và thương mại hóa.
Để giải quyết tâm lý “sợ sai”, cần thiết lập vùng an toàn pháp lý cho việc chấp nhận rủi ro trong hoạt động KHCN. Cán bộ, nhà khoa học không bị quy trách nhiệm khi đã hành động đúng thẩm quyền, minh bạch, tuân thủ quy trình kiểm soát rủi ro nhưng thử nghiệm không thành công do nguyên nhân khách quan. Ngược lại, xử lý nghiêm hành vi lợi dụng cơ chế đặc thù để trục lợi, thông đồng hoặc cố ý làm trái.
Nếu lựa chọn một giải pháp đột phá trong ngắn hạn, tôi đề xuất tăng đầu tư cho R&D và triển khai cơ chế đặt hàng quốc gia theo sản phẩm cuối cùng đối với một số bài toán chiến lược, theo nguyên tắc: Một nhiệm vụ, một người chịu trách nhiệm, một nguồn lực tập trung và một bộ chỉ số kết quả.
Không nên phân bổ nguồn lực quá dàn trải mà cần lựa chọn một số lĩnh vực có khả năng tạo tác động lớn trong 2-3 năm như trí tuệ nhân tạo, chip chuyên dụng, vật liệu mới... Nhà nước đặt hàng rõ sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật, thời hạn, thị trường ứng dụng và mức độ làm chủ; lựa chọn liên minh gồm doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu thực hiện. Nguồn vốn cần được cấp theo giai đoạn và mốc sản phẩm; cho phép điều chỉnh kỹ thuật trong phạm vi ngân sách; đánh giá bởi hội đồng chuyên gia độc lập. Đặc biệt, Nhà nước phải đóng vai trò “khách hàng đầu tiên” thông qua mua sắm công đối với sản phẩm đạt tiêu chuẩn.
Giải pháp này sẽ giải quyết đồng thời 3 vấn đề: Tập trung nguồn lực, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế và tạo thị trường ban đầu cho công nghệ Việt Nam. Tư duy quản lý hoạt động KHCN phải thay đổi từ “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” thành “được làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”.
PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!
XUÂN THỨ (thực hiện)