Văn hóa trách nhiệm được hình thành từ nhiều phương diện: Trách nhiệm với bản thân, với gia đình, với tổ chức và với xã hội. Những phương diện ấy gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, trong đó trách nhiệm với bản thân là nền tảng, là điểm khởi đầu.
Trách nhiệm với bản thân trước hết là biết làm chủ cuộc sống, nhận thức rõ khả năng, giới hạn và nghĩa vụ của mình; chủ động học tập, lao động, rèn luyện để ngày càng hoàn thiện; giúp mỗi người sống có ích và thực hiện tốt trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và tổ chức. Trong xã hội hiện đại, rất nhiều người theo đuổi xây dựng văn hóa trách nhiệm. Nhưng bên cạnh đó có một bộ phận giới trẻ không tính tới vấn đề này. Họ đi theo xu hướng “4 không” (không yêu, không kết hôn, không sinh con, không phụ thuộc vào người khác) từ nước ngoài du nhập vào. Nhiều người ủng hộ thì biện luận đó là quyền tự do cá nhân lựa chọn cách sống phù hợp với hoàn cảnh, nhưng nếu xét dưới góc độ văn hóa thì nhiều người cho rằng đó là trốn tránh trách nhiệm.
Trách nhiệm với bản thân còn thể hiện ở thái độ đối với học tập và lao động. Do công cụ tìm kiếm và trí tuệ nhân tạo giúp người học tiếp cận kiến thức nhanh chóng nên không ít bạn trẻ ngại suy nghĩ, muốn có ngay đáp án mà bỏ qua quá trình tìm tòi, tìm lời giải trên mạng trước khi tự mình đọc đề, phân tích và thử sức.
Ở phạm vi rộng hơn, một số thanh niên thiếu trách nhiệm với chính mình. Theo số liệu về thị trường lao động quý III-2026 được truyền thông đăng tải thì cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo, chiếm 11,2% tổng số thanh niên. Những con số này phản ánh nhiều vấn đề, trong đó nổi bật là câu chuyện thanh niên chưa có trách nhiệm với mình, chưa dũng cảm đối mặt tháo gỡ rào cản để nâng cao năng lực, học nghề, thích nghi với thay đổi và không ngừng tìm kiếm cơ hội phát triển.
Thời hiện đại, sự lên ngôi của gia đình hạt nhân thay cho mô hình gia đình truyền thống cũng có những lo ngại về trách nhiệm. Hiện tượng ly hôn gia tăng ở các gia đình trẻ vì những mâu thuẫn cũng cho thấy trách nhiệm xây dựng gia đình của mỗi thành viên cần phải nhìn nhận, phân chia công bằng, khách quan.
Trong cơ quan, đơn vị, mỗi tổ chức, trách nhiệm được thể hiện qua chất lượng công việc, tinh thần chủ động, ý thức chấp hành kỷ luật và khả năng phối hợp vì mục tiêu chung. Tuy nhiên, trong thực tế, có những hiện tượng đáng phải suy nghĩ về trách nhiệm và văn hóa trách nhiệm.
Có người thì bị quy kết là thiếu trách nhiệm trong công tác và vướng vào kỷ luật, thậm chí phải hầu tòa. Ngược lại, cũng có hiện tượng lạm dụng, lấy danh nghĩa trách nhiệm để làm thay phần việc của người khác, vượt quá thẩm quyền hoặc can thiệp vào công việc không thuộc phạm vi của mình nhằm khẳng định vai trò cá nhân, vun vén cho bản thân hay nhóm lợi ích.
Một biểu hiện đáng suy nghĩ trong hoạt động của một số cơ quan, đơn vị địa phương, tình trạng lợi dụng phương tiện để giảm công sức nhưng vẫn được đánh giá là có trách nhiệm. Một số sao chép văn bản, thậm chí có nơi sao chép kế hoạch, quy chế, nghị quyết lãnh đạo một cách máy móc để báo cáo đã làm giảm chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo và khiến nghị quyết khó phát huy vai trò định hướng trong thực tiễn.
Tình trạng sao chép bản cam kết tu dưỡng, rèn luyện, làm theo những mẫu gợi ý có sẵn hoặc mượn của người khác rồi thay tên, đổi họ mà không tự nhìn nhận ưu điểm, khuyết điểm và xác định biện pháp khắc phục của mình cũng là biểu hiện hình thức hóa trách nhiệm.
Trong công tác thi đua, khen thưởng cũng còn việc chưa làm hết trách nhiệm. Tại diễn đàn Quốc hội, có đại biểu đã chỉ rõ hiện tượng đánh giá qua loa, nể nang, ngại va chạm hoặc thiếu căn cứ thực tế. Đáng ngại hơn là hiện tượng “nhường” thành tích, san đều danh hiệu để giữ hòa khí, hoặc vun vén, nâng đỡ người mình yêu quý, người thuộc nhóm quan hệ thân cận, bất chấp mức độ hoàn thành nhiệm vụ và đóng góp thực tế có hiệu quả, mang lại giá trị hay không?
Điều này khiến cho động lực thúc đẩy phấn đấu bị mối quan hệ ê kíp đè nén; gây thiệt thòi cho người làm việc thực chất, làm sai lệch những giá trị mà tổ chức muốn tôn vinh. Người tận tụy, có sáng kiến, dám nhận việc có thể mất động lực khi thành quả bị san bằng với sự đóng góp hời hợt; trong khi người được ưu ái dễ ngộ nhận rằng quan hệ quan trọng hơn năng lực và kết quả công việc. Về lâu dài, điều đó làm giảm sức thuyết phục của phong trào thi đua, bào mòn niềm tin vào sự công bằng và tạo môi trường thuận lợi cho tâm lý chạy theo danh hiệu.
Trong không gian số, trách nhiệm của mỗi người càng cần được nhận thức đầy đủ. Nhưng thực tế thì không ít người đưa tin giả, thông tin sai lệch, nội dung xúc phạm danh dự và những lời kích động thiếu căn cứ. Một lượt chia sẻ tưởng như vô hại có thể khiến thông tin sai lan rộng; một bình luận nóng giận có thể làm tổn thương người khác; việc công khai hình ảnh, thông tin riêng tư mà không được cho phép có thể gây ra hậu quả khó khắc phục.
Giá trị của văn hóa trách nhiệm nằm ở chỗ mỗi người tự biết điều gì nên làm, điều gì không nên làm, ngay cả khi không có ai chứng kiến. Văn hóa trách nhiệm không hình thành trong ngày một ngày hai, càng không thể chỉ được tạo nên bằng khẩu hiệu. Thời đại số, dù công nghệ có hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn ý thức tự giác và trách nhiệm của con người. Thế nên, xây dựng văn hóa trách nhiệm không nhất thiết phải bắt đầu từ những việc lớn hay những quy định phức tạp.
Trước hết, mỗi cá nhân cần xác định rõ mình đang ở vị trí nào, đảm nhiệm công việc gì và cần làm gì trong hoàn cảnh cụ thể. Từ nhận thức đúng về vị trí, chức trách và nhiệm vụ của mình, mỗi người mới có thể xác định trách nhiệm phù hợp, chủ động hoàn thành tốt phần việc được giao, không né tránh, đùn đẩy, nhưng cũng không vượt quá thẩm quyền. Khi mỗi cá nhân làm tốt phần việc của mình, trách nhiệm cá nhân sẽ trở thành nền tảng cho trách nhiệm của cả tập thể.
Đối với các cơ quan, đơn vị, xây dựng văn hóa trách nhiệm cần gắn với thực hiện nghiêm nguyên tắc “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Cần giao việc rõ ràng và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, coi trọng khâu hậu kiểm. Hậu kiểm không phải để tìm người quy lỗi bằng mọi giá, mà để xác định công việc đã hoàn thành đến đâu, hiệu quả thực tế thế nào, vướng mắc nằm ở đâu và trách nhiệm thuộc về ai; từ đó kịp thời chấn chỉnh, khắc phục và rút kinh nghiệm. Chỉ khi việc giao nhiệm vụ đi cùng kiểm tra kết quả và làm rõ trách nhiệm đến cùng, văn hóa trách nhiệm mới thực sự đi vào thực chất.
Muốn xây dựng văn hóa trách nhiệm trong tập thể bền vững thì cán bộ chủ trì, người đứng đầu phải ý thức rõ trách nhiệm nêu gương. Cần loại bỏ những quyết định thiếu căn cứ, đánh giá thiên vị hay một biểu hiện né tránh trách nhiệm. Ngược lại, sự công tâm, dám nhận lỗi, dám bảo vệ điều đúng và kiên trì với nguyên tắc có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực vượt xa phạm vi một cá nhân. Đây cũng là cách tạo dựng môi trường văn hóa trách nhiệm để người làm thực chất được ghi nhận, người mắc sai lầm có cơ hội sửa chữa và mọi người được đối xử công bằng.
Suy cho cùng, văn hóa trách nhiệm được đo bằng những việc con người thực sự làm, không phải bằng những điều họ tuyên bố; bằng sự công tâm khi có quyền đánh giá người khác, không phải bằng những lời nói về công bằng; bằng khả năng nhận lỗi và sửa sai, không phải bằng những bản cam kết được viết giống nhau. Công nghệ có thể thay đổi cách chúng ta sống và làm việc, nhưng trách nhiệm vẫn bắt đầu từ ý thức của mỗi người. Khi mỗi cá nhân biết tự chịu trách nhiệm về lựa chọn và hành động của mình, gia đình thêm bền vững, tổ chức thêm uy tín và xã hội có thêm nền tảng để phát triển lành mạnh.
THÀNH LONG