QĐND - Khoảng 2 thập niên trở lại đây, thời trang Việt Nam đã bắt đầu có “tiếng nói” trên thị trường thời trang thế giới. Thế nhưng, để những thành công bước đầu biến thành một nền móng vững chãi, đưa ngành công nghiệp thời trang Việt tiến xa thì còn là cả một chặng đường dài.
Lược sử thời trang Việt
Khái niệm về thời trang trong xã hội Việt Nam thời phong kiến trở về trước khá mờ nhạt. Nguyên nhân trước hết thuộc về điều kiện lịch sử. Trải qua những cuộc chiến tranh loạn lạc, Việt Nam nhiều năm về trước là một nước nghèo và lạc hậu so với thế giới. Thiếu điều kiện về kinh tế, khi ước mơ của phần lớn người dân vẫn là “cơm no, áo ấm” thì thời trang cũng là một khái niệm xa xỉ. Trang phục xưa của người Việt đơn giản, chủ yếu là quần lụa đen, áo tứ thân và áo nâu sồng. Đến triều đại cuối cùng của phong kiến Việt Nam-thời Nguyễn-mới xuất hiện quần chân áo chít, bộ trang phục ban đầu áp dụng tại hai vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, về sau được phổ biến rộng rãi trong toàn quốc, từng bước trở thành quốc phục của triều Nguyễn.
 |
| Áo dài Lê Phổ - chiếc áo dài chuẩn mực của phụ nữ Việt. Ảnh tư liệu. |
Thập niên 30 của thế kỷ 20 đánh dấu một bước ngoặt trong trang phục của người Việt. Chiếc áo dài Cát Tường ra đời. Nền tảng của mẫu thiết kế này chính là chiếc áo tứ thân cổ truyền nhưng chỉ còn hai vạt trước và sau. Vạt trước được nối dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước đi, đồng thời thân trên được may ôm sát theo những đường cong cơ thể người mặc, tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo. Áo dài Cát Tường được phối với quần sa tanh trắng, phụ kiện gồm: Giày cao gót, ô che và ví đầm.
Tuy tạo được dấu ấn mạnh mẽ nhưng chiếc áo dài Cát Tường bị nhiều người phản đối vì sự lai căng quá đà. Vì thế, chỉ một thời gian ngắn sau khi nó ra đời, chiếc áo dài Lê Phổ đã xuất hiện. Họa sĩ Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Cát Tường, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đây, áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó và từ bấy đến nay, dù trải qua bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên.
 |
| Trang phục gọn gàng phù hợp với cuộc sống chiến đấu thời trang kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của phụ nữ miền Bắc. Ảnh tư liệu. |
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cùng các phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt". Chiếc áo dài điệu đà đã không còn phù hợp với đời sống lao động và đặc biệt là phong trào tiết kiệm. Vì thế, ngày 20-3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bút danh Tân Sinh, đã viết một cách vắn tắt, rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời sống mới", trong đó vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo vắn, vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện. Áo dài lại tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được ba cái áo vắn, nếu chỉ mặc áo vắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm. Cuộc vận động này dần đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam trong một thời gian dài ở miền Bắc. Trang phục của phụ nữ nông thôn có nhiều thay đổi để phù hợp với cuộc sống vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu. Chị em mặc gọn gàng: Áo cánh nâu, cổ tròn hay cổ quả tim, trong mặc áo lót không tay, quần đen bằng vải phin hay láng; vấn khăn và chít khăn vuông mỏ quạ. Những người thoát ly làm cán bộ mặc áo kiểu sơ mi đại cán, tay thẳng, cổ hình cánh nhạn, áo thường may bằng vải màu xanh hòa bình hay ka-ki màu xi măng, màu be hồng; búi tóc hoặc cặp tóc. Trong khi đó, trang phục nam giai đoạn này phổ biến là chiếc áo vải ka-ki đại cán, bốn túi, mặc ngoài (kiểu áo Tôn Trung Sơn-Trung Quốc đã được Việt hóa).
Tại miền Nam, cuối năm 1958 xuất hiện chiếc áo dài Trần Lệ Xuân. Đây là kiểu áo dài cách tân bỏ đi phần cổ áo. Loại áo dài không có cổ này vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoét sâu cho tròn chứ không ngắn như bản gốc. Trong khi đó, tại khu vực nông thôn vẫn phổ biến chiếc áo bà ba. Cũng trong giai đoạn này, phong trào mặc váy đầm phát triển mạnh mẽ. Váy, từ kiểu dài quá đầu gối, may phồng và hơi khum phần dưới (gọi là váy chuông) đến những năm 1960 lại may thẳng, xẻ chút ít ở giữa thân sau, hoặc may xếp li hay may bó; mặc với áo ngắn tay hoặc áo không tay, ngang lưng có dải vải thắt ngoài, bỏ giọt bên cạnh hay ở giữa; hoặc mặc với áo thẳng, cổ viền, túi viền... một màu hay nối màu.
Trang phục nam giới ở miền Nam thời Mỹ chiếm đóng được Âu hóa đậm nét. Hầu hết đàn ông mặc áo sơ mi, vét-tông, quần Âu bằng nhiều loại vải, nhiều màu sắc và kiểu may.
Kể từ sau năm 1975, trang phục cả hai giới dần dần được Âu hóa trên địa bàn cả nước. Đàn ông mọi lứa tuổi đều mặc quần Âu, áo sơ mi, com-lê… Dấu ấn đậm nét nhất thời kỳ đầu của giai đoạn này là chiếc quần Âu ống loe tới 50-60cm xuất hiện với nhiều loại thắt lưng da các màu, to bản.
Cơ sở để hy vọng
Nếu nhìn nhận một cách khách quan, đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một nền thời trang thực sự. Mặc dù giá trị xuất khẩu hàng dệt may trong những năm gần đây liên tục đạt hơn 20 tỷ USD/năm và giữ vững vị trí cường quốc xuất khẩu dệt may nhưng chúng ta vẫn nặng về gia công, xuất khẩu dưới các thương hiệu nước ngoài, nguyên phụ liệu chủ yếu là ngoại nhập. Trên thế giới, sản phẩm mang thương hiệu thời trang Việt còn trống vắng.
 |
| Thời trang Việt Nam hiện đại đã hội nhập sâu rộng với thế giới. Ảnh Minh Hằng. |
Việt Nam chưa có nền thời trang nhưng không có nghĩa là chúng ta không thể xây dựng. Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang hội tụ nhiều cơ sở để hình thành một nền thời trang. Về phía con người, từ năm 1986, Việt Nam đã có những khóa đào tạo thiết kế chuyên nghiệp. Một trong các nhà thiết kế thời kỳ đầu tiên của ngành thời trang Việt Nam là Minh Hạnh đã tạo ra những dấu ấn riêng và sự mở đầu đầy ấn tượng cho làng thời trang Việt sau này. Các thế hệ học trò tiếp nối của Minh Hạnh như: Trương Thanh Hải, Phạm Anh Tuấn, Công Trí, Thuận Việt, Võ Việt Chung, Lê Quý Khánh… đều đã ít nhiều thành công và tạo dựng được tên tuổi với những nhãn hiệu thời trang của riêng mình. Đặc biệt, nhà thiết kế trẻ Công Trí là nhà thiết kế Việt Nam đầu tiên được tham gia vào “Tuần lễ thời trang Luân Đôn năm 2013”.
Về phía thị trường, đời sống số đông người Việt đã quá thời “cơm no, áo ấm” mà chuyển sang giai đoạn "ăn ngon, mặc đẹp”. Đó chính là một nền tảng quan trọng, tạo cơ hội phát triển cho thời trang Việt Nam.
Mặt khác, nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã có bề dày kinh nghiệm khi gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài. Vì thế, khi bắt tay vào việc xây dựng thương hiệu cho riêng mình, các doanh nghiệp Việt sẽ có lợi thế trong các lĩnh vực như: Kỹ thuật, trang thiết bị và thị trường.
Việt Nam đang hội tụ cơ bản những yếu tố để phát triển một nền thời trang, nhưng đó mới là những thứ "cần”. Chúng ta còn đang thiếu một số yếu tố “đủ”. Thứ nhất, là việc đào tạo đội ngũ thiết kế vẫn vừa thiếu về số lượng, vừa thiếu sự toàn diện. Trong đó, đặc biệt là việc đào tạo khả năng kinh doanh của nhà thiết kế. Một nhà tạo mẫu không chỉ có óc sáng tạo, mà cần phải có khả năng kinh doanh nhất định. Lý do là thời trang cần phải kết hợp nhiều yếu tố, điều quan trọng là phải nhận biết được môi trường kinh doanh và hiểu các cơ chế đằng sau đó. Thứ hai, yếu tố quan trọng nhất, để phát triển ngành công nghiệp thời trang Việt Nam cần sự đồng bộ, với một chiến lược phát triển bài bản.
DUY ANH