“Tôi một kẻ tù nhân tự nguyện/ Tống giam mình trong bảy mét vuông thôi/ Từ chối hết mây trời và gió biển/ Để chuyện trò cùng bốn bức tường vôi...”. Nghe thế, chắc có người bảo tôi là thứ lạc loài, sống cực đoan, yếm thế. Nhưng, nhà thơ dù có đóng kín cửa phòng, thì trong đầu, trong tim cũng không phút nào không liên hệ với cuộc sống, không bị những âm thanh cuộc sống dội vào…

Đừng nghĩ cá nhân là ích kỷ

PV: Thưa nhà thơ Anh Ngọc! Nếu như trước đây, thơ ca Việt Nam chủ yếu viết về cái chung lớn lao thì bây giờ đi theo hướng ngược lại, viết về cái tôi với những bi kịch, đau thương, mất mát. Một nhà thơ trưởng thành trong chống Mỹ như anh cũng không nằm ngoài xu hướng đó?

Nhà thơ Anh Ngọc: Thế hệ chúng tôi một mặt vẫn tiếp tục viết về chiến tranh, có điều là với cách tiếp cận chân thực hơn, toàn diện hơn, với lợi thế nhờ có độ lùi hơn 30 năm. Nhưng chúng tôi cũng là người của hôm nay, chúng tôi còn phải viết về những vấn đề muôn thuở của đời thường, của con người bình thường.

Theo tôi, đề tài đích thực và là trọng tâm của văn học, của thơ ca là viết về thế giới tinh thần của chính mình, cái thế giới vi mô, vô hình và vô tận, tiềm ẩn trong hồn ta. Người ta gọi là thơ hướng nội. Thực ra trong thơ, dù có tả cảnh, kể chuyện đi chăng nữa thì cũng chỉ là mượn chất liệu bên ngoài để diễn đạt thế giới bên trong của hồn mình. Và thi sĩ, nếu không thuộc loại dị dạng hay mắc bệnh thần kinh, thì thế giới riêng của họ cũng là chung cho muôn vàn thập loại chúng sinh.

- Giống như câu thơ của Vích-to Huy-gô: “Thật nực cười khi nghĩ rằng tôi không phải là anh” mà anh rất tâm đắc?

- Ngay trước phút gặp anh đây thôi, tôi đã chợt nghĩ rằng mình phải làm một trường ca hay cả một tập thơ với đầu đề: Tôi! Điều này tôi mới tiết lộ với anh và nhớ giữ bản quyền giùm nhé, bởi thời buổi này đạo văn nhiều lắm (nói đùa thôi, mới là ý nghĩ, ai muốn đạo thì cứ đạo). Tôi sẽ chỉ viết về thế giới của riêng mình và trương ngay lên từ đầu câu đề từ của Huy-gô. Đừng nghĩ cá nhân là ích kỷ. Đi đến tận cùng thế giới của một con người, ta sẽ gặp tất cả, như một giọt nước phản ánh cả biển cả, số phận một con người là ám ảnh thân phận của mọi con người: Khổ đau và hạnh phúc, cao thượng và thấp hèn, bất tử và mong manh, lớn lao và hữu hạn...

- Nhưng hình như, với lớp nhà thơ, nhà văn trẻ sinh sau năm 1975, sự “vào cuộc” của họ dễ dàng hơn, không trăn trở, vật vã như các anh?

- Họ không có quá khứ chiến tranh nên dĩ nhiên không hào hứng viết về nó. Nhưng họ lại phải đối diện và vật vã với những phức tạp khác. Họ khát khao tự giải phóng mình trước những ràng buộc của cuộc sống. Ở hoàn cảnh chúng ta, có rất nhiều sự ràng buộc do khách quan mà chúng ta không biết và không nên đổ tội cho ai: đói rét, chiến tranh, lạc hậu, những lề thói cũ kỹ mỏi mòn đến mốc thếch, rong rêu... Bản chất của sức trẻ là chống lại những xiềng xích đã an bài. Xuyên suốt trong tâm thế của các bạn ấy là khát khao tự khẳng định, và với tâm thế ấy, đúng hay sai không thể “phán” một câu dễ dãi, như khi ta đọc Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu chẳng hạn.

- Nói về chống đối với cái truyền thống trong thơ ca thì thế hệ trẻ nào cũng chống đối, như thời Lưu Trọng Lư từng giễu các nhà thơ Đường: “Nắn nót miễn sao nên bốn vế/ Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ”. Lớp trẻ hiện nay lại không chấp nhận cả Thơ Mới, một nền thơ rất đáng yêu...

- Thơ bây giờ còn rất ít vùng cấm. Không có những ý nghĩ, cảm xúc nào của con người mà không được bày lên trang giấy. Từ những chuyện tế nhị như tình dục, chỗ kín trên thân thể con người, những chỗ mà cha ông ta chí ít cũng lấy lá nho che lại. Hoa hậu còn có hai mảnh, còn trong thơ có khi không còn mảnh nào hết: Thơ của nhóm “ngựa trời”, nhóm “mở miệng”, những thứ “thơ rác”...

Theo tôi, nhiều cây bút trẻ chỉ mới quan tâm đến nhu cầu tự thân của hình thức, chưa thấy rõ những động lực thúc đẩy bên trong của nội tâm, nội lực. Họ chống lại lề thói cũ với vẻ hả hê, và chỉ có thế. Tôi vẫn nghĩ, đổi mới thơ trước hết là từ chất liệu nội dung. Từ cách nghĩ, cách cảm mới mẻ và mạnh mẽ sẽ nảy sinh ra cách nói mới, cách viết mới, một chân lý cũ kỹ, nhưng vẫn đúng. Những tâm huyết nồng nàn, những yêu ghét chín muồi mới sinh ra những bản lĩnh thơ đích thực. Cũng như trai gái có yêu nhau đến độ nào đó mới thốt nên được thành lời giản dị mà làm rung động trái tim, còn không chỉ là chót lưỡi đầu môi, tán tỉnh cho vui mà thôi.

Tôi đã đọc và thấy thích một số câu, đoạn của Nguyễn Quyến trước đây, của Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thư hôm nay. Thơ của họ tiến rất gần văn xuôi nghệ thuật, nhưng vẫn giữ được đặc thù của ngôn ngữ thơ ca là tính cách điệu cao, có hình ảnh và nhạc điệu bên trong.

Cuộc chiến đấu với cái áo dài

PV: Đáng lẽ ra, càng đi vào thế giới nội tâm như anh nói, thì thơ tình càng phải hay hơn. Nhưng theo chủ quan của tôi, trong mấy năm gần đây, chưa có bài thơ tình nào đóng đinh vào trí nhớ người đọc như “Thuyền và biển” của Xuân Quỳnh, “Thơ tình ở Hàng Châu” của Tế Hanh... viết trong thời chống Mỹ?

Nhà thơ Anh Ngọc: Có hai cách tồn tại của thơ: Một lối tồn tại theo kiểu hiện vật bảo tàng. Nó như chiếc cọc Bạch Đằng, rất thiêng liêng nhưng chỉ là chứng nhân của một thời, thỉnh thoảng người ta đến ngắm nghía. Đó là sự sống sau khi đã chết. Lối thứ hai phải như cây tươi xanh, nghĩa là mùa xuân thì ra hoa, mùa thu kết trái, mùa đông thì khô héo... Người ta đến đó để hưởng bóng mát, để thưởng thức trái ngọt, ngồi tình tự... Một bài thơ thực sự tồn tại theo cách của thơ thì phải đồng hành được với ngày hôm nay. Những người yêu nhau hôm nay đọc bài thơ lên phải xúc động bởi nó nói hộ lòng họ. Nếu không, bài thơ chỉ là chứng tích quá khứ, là mảnh hoá thạch lưu dấu của quá khứ.

Nữ thi sĩ Xưm-bo-rơ-xca, người Ba Lan, được giải Nô-ben, có viết rất hay về các hiện vật trong bảo tàng, rằng cái giày sống lâu hơn bàn chân, cái áo dài sống lâu hơn con người. Và cuộc chiến đấu của bà là cuộc chiến đấu với cái áo dài của bà. Làm thế nào để bà gửi gắm tư tưởng, tình cảm trong thơ một cách nghệ thuật, giàu sức sống, làm cho cái áo dài dứt khoát phải “chết” trước thơ bà. Sự tồn tại của thơ luôn luôn là như vậy. Phải để tâm hồn của mình mãi mãi sống động như nó vốn có, không bị những định kiến nhất thời chi phối, thì chắc chắn không có cái áo dài nào sống lâu bằng thơ.

- Như vậy phải có những tài năng lớn...

- Nghệ thuật là vương quốc của tài năng. Người tài chống lại được hoàn cảnh. Người tài như dòng sông ở trong dòng sông. Ví dụ như Trịnh Công Sơn chẳng hạn. Ai mà tưởng tượng nổi, ông viết “Đoá hoa vô thường”, “Một cõi đi về” năm 1974, lúc chiến tranh rất ác liệt còn trùm lên đất nước. Vừa viết ca khúc phản chiến, nhưng mặt khác, ông lại mang trong mình một thế giới tinh thần hoàn toàn độc lập với cái nhất thời. Vì thế, nhạc của ông là bất tử.

Ở ngoài Bắc, có Lưu Quang Vũ. Đó là một tài năng thơ lớn. Nói thực, tôi yêu Lưu Quang Vũ nhất trong số các nhà thơ Việt Nam thời chống Mỹ. Một mặt, anh vẫn làm thơ phục vụ chiến đấu, nhưng bao giờ trong thơ Vũ cái riêng cũng rất nhiều, nhất là thơ trong sổ tay chưa công bố, anh viết ngay trong chiến tranh, nhưng là lời tình tự của tâm hồn người nghệ sĩ đích thực, nhìn cuộc sống bằng trái tim. Cái minh triết, trí tuệ cao nhất và xa nhất của người nghệ sĩ thuộc về tiếng nói của trái tim...

- Như M.Goóc-ki viết: “Đốt cháy trái tim lên thành trí tuệ”...

- Đối với người nghệ sĩ, trí tuệ rất cần nhưng cao nhất và cuối cùng tất cả vẫn phải chín lại trong trái tim yêu thương, căm giận. Trước nỗi đau thương của con người, những tâm hồn lớn đều đau đớn, thương xót. Tôi nhớ nhà thơ Việt Phương có những câu thơ rất hay về Bác Hồ: Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là đánh đẹp/ Con xóa chữ đẹp đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con/ Mới biết lòng Người trước kẻ thù rắn hơn sắt thép/ Mà tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn...

Việt Phương nói được điều đó trong thời điểm năm 1969 là rất giỏi. Cho nên thơ hay, thơ dở một phần do hoàn cảnh, nhưng trái tim và tài năng, hay nói cách khác, tài năng của trái tim con người có thể vượt lên cả hoàn cảnh để đồng hành cùng thời gian.

- Và với nhà thơ Anh Ngọc, người đã từng có mặt ở Hàm Rồng, Quảng Trị, Cam-pu-chia trong thời điểm mưa bom bão đạn, người đã có những trường ca rất hay viết về chiến tranh như “Sóng Côn Đảo”, “Sông Mê Kông bốn mặt”, “Điệp khúc vô danh”... thì tư tưởng đổi mới trong thơ đã có từ bao giờ?

- Nhiều vấn đề về nguyên lý, tức là phần bất biến của thơ tôi đã cảm nhận được và suy nghĩ nhiều trong chiến tranh, nhưng mãi sau năm 1975 tôi mới có cảm giác đã tìm ra chìa khóa của thơ, giống như Ác-si-mét reo lên: “ơ-rê-ca”. Chìa khóa đó là: Một bước cũng không ra khỏi chính mình. Sống đúng mình và hết mình, cộng với lao động sáng tạo nghiêm túc luôn là cơ sở để có được những bài thơ đích thực. Còn tài năng và... kiệt tác, là câu hỏi dành cho trời đất và cõi vô cùng.

Một trái tim thức đập

PV: Nhưng có nhà thơ nổi tiếng đã nói rằng: do người làm thơ quá đào sâu vào bản ngã riêng, cứ đi mãi vào tâm hồn mình mà không quan tâm đến vấn đề đất nước nên công chúng giờ đây ít đến với thơ?

Nhà thơ Anh Ngọc: Điều đó đúng một phần, trong trường hợp bản ngã của anh trống rỗng, nghèo nàn, méo mó...

Không có thi sĩ nào lại không tiếp nhận sự dội vào của xung quanh, của người thân mình, của dân tộc mình, của thế giới. Tôi dù có đóng kín cửa phòng, nhưng làm sao lại không nghe thấy tiếng vọng của ngọn gió thổi ở ngoài. Cái chính là nhà thơ không đào đúng được cái vỉa quan trọng nhất ở trong tâm hồn anh, và vì thế độc giả thấy xa lạ với họ. Trước khi xa lạ với mọi người, thực ra anh đã xa lạ với chính anh. Một trái tim thức đập thì càng bản ngã, anh càng gần với công chúng. Nhà thơ Gam-da-tốp từng có ý thơ thú vị: Có người chê những bài thơ ông làm tặng vợ là thứ thơ riêng tư, chẳng có ích gì cho công chúng, nhưng nực cười là hễ ông cứ để sểnh ra là chính họ lại lẻn cầm về để tặng... vợ!

Nhà thơ có cái đích cuối cùng, đồng thời là niềm tự hào vô cùng, sung sướng vô cùng là anh được sống hết mình với cái anh có.

- Nhưng có một thực tế là thơ bây giờ in ra chủ yếu để tặng, còn để bán thì quanh năm suốt tháng nằm trên giá của hiệu sách, trừ thơ tình dục của nhóm thơ trẻ nào đó được các nhà phê bình thổi phồng lên.

- Nếu nhìn từ quá khứ đến hiện tại, công chúng yêu thơ so với trước cũng không ít đi. Nếu ít chỉ là so với chính thơ. Giả dụ, ngày xưa cả nước có khoảng mười nhà thơ thì có một trăm người đọc, bây giờ có một nghìn nhà thơ thì cũng chỉ có từng ấy người đọc, hoặc nhiều hơn chút ít. Cũng như áo quần ấy, ngày xưa bao cấp, quần áo bán ở mậu dịch, đuổi đi người ta vẫn xông vào mua, nay bày ê hề ngoài chợ, lại giống nhau, bán chạy thế nào được? Thơ giờ nhiều quá, thơ dở cũng nhiều, trong khi đó báo chí lăng-xê tùy hứng nên nó loạn tiêu chí. Bây giờ in thơ dễ lắm, nên trở thành nhà thơ dễ lắm, dễ nhất trần đời!

Giữa một định hướng bát nháo như thế, công chúng trở nên mệt mỏi, dẫn đến một tình trạng hợp lý: người đọc thơ trên sách báo ít, nhưng người nghe nói chuyện thơ vẫn đông, và họ thích đọc và nghe phê bình thơ hơn đọc thơ. Chính vì loạn tiêu chí mà rất cần những nhà phê bình thơ thật tài năng, thật công tâm, nói đúng cái hay cái đẹp của thơ như kiểu Hoài Thanh, nếu được thế, tôi tin công chúng sẽ đọc thơ nhiều hơn.

Con người Việt Nam ta vốn sống tình cảm. Mặt hạn chế của nó là tạo nên thứ gia đình chủ nghĩa, tình cảm cá nhân vô lối, nhưng mặt tốt là đa cảm, dễ đùm bọc thương yêu nhau. Đó là cái gốc lý giải tại sao người Việt Nam làm thơ nhiều. Làm thơ nhiều đâu phải xấu, bởi còn làm thơ là trong chỗ sâu xa còn tử tế. Chỉ có điều cần phải kèm theo một nền phê bình tương xứng.

- Xin cảm ơn anh!

Hồng Sơn (thực hiện)