Gia đình tôi cũng vậy: Mẹ tôi thuở nhỏ chăn trâu cắt cỏ, làm ruộng, khi sinh chúng tôi đã bắt đầu chuyển sang nghề nhuộm giấy màu. Bản thân tôi khi học tiểu học cũng đã đi chăn trâu, nhưng đồng thời cũng đã được đi học violin, người thầy đầu tiên là nhạc sĩ Nguyễn Trần Dư-thân sinh nghệ sĩ piano Nguyễn Hoàng My, sau chuyển sang học thầy Nguyễn Văn Diệp tại số 5 phố Lý Quốc Sư (Hà Nội).
Cũng vào thời điểm này (năm 1944), nhà tôi là nơi sinh hoạt của chi bộ Đảng lớp Hoàng Văn Thụ, đồng thời là nơi hội họp của Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu mà đồng chí Vũ Oanh-sau này là Ủy viên Bộ chính trị làm Bí thư; Ủy viên Ban Chấp hành còn có đồng chí Quốc Hồng sau này là Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; đồng chí Hải Hùng, nguyên Phó cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị-lúc đó là Đội trưởng Đội Tự vệ xung phong (được thành lập từ Đoàn Thanh niên cứu quốc) cũng hay lui tới nhà tôi.
Sinh ra và lớn lên tại một làng giáp thành phố, cùng một lúc tôi chịu ảnh hưởng nhiều luồng âm nhạc: Nhạc mới (đoàn viên Đoàn Thanh niên cứu quốc); nhạc giao hưởng qua đĩa hát. Nhưng sâu sắc hơn cả là làn điệu chèo qua giọng hát của bố tôi. Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại giọng bố hát bài "Sa lệch chênh", tôi vẫn cảm nhận được tiếng hát vang lên nguyên vẹn và sinh động như đương thời dù cách đây đã hơn 60 năm. Đây thật sự là nguồn cảm xúc lớn lao, nuôi dưỡng sức sáng tạo cho tôi sau này, bởi nó thấm đẫm tình người: “Sao chả thấy sang, ôi a nhắn tin sang, chàng ơi. Sao mà chả thấy sang, chứ hẹn thời ba bốn năm hẹn í a, ơ ới i a mà để lòng càng chứ lòng càng xót xa...”.
Tuy nhiên, khi lớn lên trong quân ngũ, trở thành người sáng tác chuyên nghiệp, tôi đã hòa dòng cảm xúc mang tính tự sự của chèo vào âm hưởng mộc mạc nhưng âm ỉ một sức quật khởi mãnh liệt của dân ca miền Trung, đặc biệt của Nghệ Tĩnh. Điều này thấy rõ trong hợp xướng “Sóng Cửa Tùng” (từ chất liệu hò Như Lệ-Quảng Trị); “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” (thơ Hữu Thỉnh); “Người con gái sông La” (thơ Phương Thúy); đoạn trầm hùng trong “Tiến bước dưới quân kỳ”; nhất là ca cảnh “Lá đơn tình nguyện” (kịch bản Kim Tiến, Quốc Bảo) với những khúc tự sự nhỏ (arioso) của các nhân vật: Ông bố già, cậu con trai, cô con dâu và nhất là bài “đối ca” cãi nhau của cặp vợ chồng trẻ: “Thế mà gọi là thanh niên”...
Cái hài, cái dí dỏm trong chèo cũng in đậm trong tôi để rồi có “Quả bom câm” (ca dao Nghiêm Đa Văn-Doãn Nho); “Chiếc khăn rơi”; “Em tắm” (thơ Bạc Văn Ùi-dân tộc Thái); “Nhắn xe qua cầu” (ca dao Trần Nhương); “Bài ca xe ba cầu” (thơ Phạm Tiến Duật) và một số khúc tự sự cùng bài “Đối ca” trong ca cảnh “Lá đơn tình nguyện”.
Tôi vô cùng biết ơn Quân đội đã rèn giũa tôi trở thành anh Bộ đội Cụ Hồ và tạo điều kiện cho tôi được học hành tới nơi tới chốn, nhờ vậy, cho đến nay, tôi vẫn giữ được niềm say mê sáng tạo. Ở cả hai mảng thanh nhạc và khí nhạc tôi đều viết nhiều thể loại khác nhau: Từ khúc dạo đầu đến giao hưởng thơ, liên khúc giao hưởng; từ ca khúc tới ca cảnh, thanh xướng kịch.
Tôi biết ơn bác Nguyễn Xuân Khoát đã khích lệ tôi viết chuyên luận “Dân ca và ca khúc hiện đại Việt Nam”. Thật tâm tôi không có nguyện vọng và không dám nghĩ mình viết chuyên luận, bởi vì đó thuộc lĩnh vực lý luận. Nhưng bác Khoát thuyết phục rằng: Cậu đang có điều kiện, nếu không viết thì ai viết?! Vậy là tôi “liều mạng” viết, cuối cùng “say” luôn! “Say” vì tính tò mò, khi phát hiện ra những quy tắc, những quy luật, tôi hào hứng vô cùng, không kém gì khi viết được một tác phẩm thành công. Sau tác phẩm thứ nhất, tôi đã hoàn thành đề cương nghiên cứu thứ hai với chủ đề “Tư duy đơn âm, tư duy đa âm. Bản chất ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam hiện đại”. Khi chuẩn bị lên đường đi học tiếp thì tình hình Liên Xô đã có nhiều diễn biến phức tạp trước khi bị sụp đổ nên chuyến đi dừng lại, do vậy, bản chuyên luận thứ hai của tôi cũng dừng lại ở dạng đề cương.
    |
 |
| Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho và vợ - cố nghệ sĩ Nguyệt Ánh. Ảnh tư liệu gia đình |
Tôi đặc biệt cảm ơn nhạc sĩ Đỗ Nhuận, người đã góp ý thẳng thắn về hai ca khúc đầu tay của tôi khi tôi đang là quản ca của một đại đội học viên khóa VI Trường Sĩ quan Lục quân 1 (1950-1951). Đầu đuôi câu chuyện như sau:
Trung đoàn sắp có cuộc thi báo tường, chính trị viên đại đội nảy ra sáng kiến là phải có một bài hát hiện diện trên báo, như vậy mới độc đáo và chắc chắn sẽ thắng điểm. Đồng chí chính trị viên gọi tôi vào văn phòng giao nhiệm vụ viết bài hát. Tôi hồn nhiên nhận nhiệm vụ (cũng một phần vì tò mò) và hỏi lại đầu đề là gì? Chính trị viên trả lời: Đại đội ta đang có phong trào thi đua, tăng gia sản xuất bằng cách đào than đem về cho anh nuôi, vậy cậu viết bài “Đào than”. Tôi đã chấp hành như chấp hành một mệnh lệnh, để y nguyên tên bài như vậy và bắt đầu viết với tất cả sự sôi nổi rất thật của mình:
“Đào mau mau, đào tới tấp, cùng xúc hắt nhanh luôn tay. Nào anh em, cùng quyết chí, trường sẽ ghi công C ta nhất trong trung đoàn.
Cùng làm, cùng cố gắng, cùng thi đua xem B nào, C nào được nhất. Mãn khóa xem ai anh hùng lập công tăng gia sản xuất!”.
Sau này khi dạy cho đại đội, anh em hát say sưa và rất bốc, đặc biệt có thể quay đi và quay lại hát tới bao giờ mệt thì thôi!
Phải nói quyết định của đồng chí chính trị viên là rất đúng, nhờ có bài hát trên báo mà đại đội tôi giành giải nhất cuộc thi báo tường của trung đoàn.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đã nghe bài này sau khi xuống thâm nhập đại đội tôi. Hôm sau, tôi lên văn phòng nhà trường gặp và xin ý kiến hai nhạc sĩ. Bác Khoát chỉ tủm tỉm, còn nhạc sĩ Đỗ Nhuận “phang” thẳng cánh: “Mày viết tây bỏ mẹ! Hoàn toàn là hơi kèn “bú dích” (musique) của trại lính tây, nghe không được!”. Tôi rất thoải mái tiếp thu phê bình vì quả thật, tôi có ý nghĩ mình sẽ là nhạc sĩ sáng tác đâu!
Ít lâu sau tôi viết tiếp một bài nữa, bài này không do chính trị viên yêu cầu mà hoàn toàn do đòi hỏi của trái tim mình. Năm ấy tôi 18 tuổi, còn hay nhớ nhà, đặc biệt nhớ mẹ (khi nhập ngũ tôi 17 tuổi, phải khai tăng một tuổi để được nhận). Hằng ngày đơn vị ra thao trường vẫn được một bà mẹ nghèo ở địa phương thường đem một ấm nước đun sôi để nguội cùng một chồng bát ra cho chúng tôi uống. Tôi rất xúc động nên đã viết bài “Bà mẹ nuôi”:
“Thao trường ướt đẫm mồ hôi, giữa trưa là trưa trời nắng, trời nắng, nắng soi là soi khắp nơi, khắp chốn.
Sau làng bao lính lục quân, núp cây là cây tránh nắng, nghỉ mát, mát cho là cho cái chân bớt chồn.
Mẹ già mang đến bên là bên ấm nước, nước sôi, với dăm cái bát, với một niềm vui.
Mẹ già mang đến bên là bên ấm nước, nước sôi, với dăm cái bát, với một nụ cười.
A sướng vui mừng, bao mừng vui bên mẹ già, mẹ nuôi chúng ta.
Người luôn săn sóc như là mẹ ta ở nhà.
A sướng vui mừng, bao mừng vui bên mẹ già, mẹ nuôi chúng ta.
Người luôn săn sóc như là mẹ ta khi xưa!”.
Bài hát không chỉ được đại đội tiếp nhận mà rất nhiều đại đội khác trong trường cũng say sưa hát. Một lần nữa tôi đến xin ý kiến hai nhạc sĩ bậc cha anh, sau khi đã say sưa hát lại từ đầu đến cuối bài. Bác Khoát vẫn thế, chỉ tủm tỉm; còn nhạc sĩ Đỗ Nhuận tiếp tục “phang” thẳng cánh: “Bài trước thì tây, bài này thì tàu, tàu quá thể! Không thể chấp nhận được! Muốn viết hay cậu phải ngấm dân ca đã”. Quả thật lần này tôi cảm thấy bị hẫng, dẫu sao bài này cũng là tiếng nói từ chiều sâu trái tim mình và rõ ràng được quần chúng hưởng ứng. Tuy nhiên cũng chỉ thoảng qua thôi, tôi không bận tâm nhiều, không bứt rứt nhiều.
Kết thúc khóa học, các học viên tốt nghiệp trở thành sĩ quan, chuẩn bị về đơn vị chiến đấu. Trong không khí nao nức lên đường lập công, tôi đã viết hành khúc “Tiến lên theo gương La Văn Cầu”. Nhớ lời khuyên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, tôi đã thử vận dụng hơi chèo vào bài này. Quả thật khi hát lên thấy thấp thoáng ẩn hiện dáng vẻ những người nông dân mặc áo lính-đồng đội của mình. Chính nhờ đà này mà tôi đã thành công liền ở các tác phẩm sau đó: “Sóng Cửa Tùng” (năm 1955); “Chiếc khăn rơi” (năm 1956); “Tiến bước dưới quân kỳ” (năm 1958).
Khi được học ở Nhạc viện Kiev (Liên Xô trước đây), có điều kiện được nghiên cứu cả về mặt lý luận, tôi không những hiểu hơn những vấn đề thuộc bản chất của thanh nhạc mà còn hiểu hơn về vai trò quyết định của thể loại khí nhạc. Trong lúc các thủ pháp âm nhạc ở mảng thanh nhạc bị phụ thuộc vào lời ca, thì ở mảng khí nhạc chúng được thỏa sức vẫy vùng, tạo nên sự phong phú cực kỳ với các hình tượng nghệ thuật độc đáo. Bởi vậy, trong bài viết: “Để tiếng nhạc, lời ca bay xa hơn”, tôi đã khẳng định: “Một nền nghệ thuật âm nhạc khỏe mạnh bao giờ cũng đứng trên cả hai chân, trụ vững trên cả hai lĩnh vực: Thanh nhạc và khí nhạc”. Trung thành với ý tưởng này, tôi đã tìm cách chuyển từ tư duy ca khúc tới tư duy giao hưởng, tuy nhiên để liền mạch cảm xúc, tôi đã sử dụng nhiều chất liệu từ ca khúc để viết giao hưởng “Tháng Tám lịch sử”, “Thánh Gióng”, “Khúc tưởng niệm” và liên khúc giao hưởng 3 chương với tiêu đề “Chiến thắng”. Kết hợp cả hai tư duy thanh nhạc và khí nhạc, tôi đã viết thanh xướng kịch mà tiêu biểu là hai chương: “Lạc Long Quân, Âu Cơ” trong “Trẩy hội Đền Hùng” và “Lý Thái Tổ xuống chiếu dời đô” trong “Hoa Lư-Thăng Long”.
Suốt quá trình sáng tác, tôi thấy rõ năng khiếu là cần thiết, nhưng lao động là quyết định. Chỉ có làm việc và học tập không ngừng (học ở trường, học ở đời, đặc biệt học ở các bạn đồng nghiệp) với tư cách và tâm hồn của một công dân, một người lính Cụ Hồ mới có thể có tác phẩm sống mãi với thời gian.
Đại tá, nhạc sĩ DOÃN NHO