Khi những pho sử thi dần thưa vắng

Trong kho tàng văn học dân gian Tây Nguyên, sử thi là thể loại đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên, phản ánh cuộc sống, phong tục, tín ngưỡng, cũng như những sự kiện lịch sử của các cộng đồng người dân. Nơi đây, mỗi con sông, ngọn núi đều tác động rất lớn đến văn hóa, đời sống của dân tộc trong vùng mà ta thường bắt gặp nhiều trong những trang sử thi. Mỗi cộng đồng dân tộc có những trang sử thi gắn với sinh hoạt, do được đúc kết, truyền miệng qua nhiều thế hệ, yếu tố dị bản là điều hiển nhiên nên ta dễ bắt gặp nhiều câu chuyện “tương đồng”. Hơn nữa, với các cộng đồng dọc dãy Trường Sơn còn có sự giao thoa văn hóa nên khi xây dựng hình tượng, câu chuyện anh hùng ca “na ná” là điều không thể tránh khỏi.

Với điều kiện tự nhiên phức tạp (6 tháng nắng, 6 tháng mưa) hình thành cho Tây Nguyên những câu chuyện để phòng tránh thú dữ, thiên nhiên, điều này đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi cộng đồng. Văn học dân gian như một chứng cứ chân thật nhất để nhắc nhớ, giáo dục cộng đồng mình có ý thức phòng vệ những điều kiện khắc nghiệt nhất. Cùng với diện tích rừng và thổ nhưỡng có truyền thống lâu đời, những điều này tạo nên một hình tượng Tây Nguyên trong kho tàng sử thi thật lớn lao, với những cứ liệu hiện tại là bản trường ca, sử thi về lòng quả cảm, chế ngự thiên nhiên.

leftcenterrightdel

Những nghi lễ được tái hiện trong không gian mới. Ảnh: NGUYÊN QUỐC 

Đơn cử, người Ê Đê có đời sống tinh thần phong phú, trong đó có kể "khan" với hàng trăm câu chuyện khác nhau và Đam San là câu chuyện nổi danh bậc nhất. Chuyện có hơn 2.000 câu thơ nói về cuộc đời và những cuộc chinh phục của tù trưởng Đam San. Qua hình tượng Đam San, chúng ta hiểu rõ hơn về bản sắc văn hóa và con người Ê Đê vùng đất Tây Nguyên. Sử thi Đam San đã tô đậm thêm những nghi thức, nghi lễ độc đáo với những tập tục đặc biệt của tộc người Ê Đê không thể trộn lẫn với các dân tộc khác.

Theo thời gian, do điều kiện các thế hệ già đi và chủ yếu là dùng trí nhớ nên việc lưu giữ những giá trị văn hóa dân tộc trở nên khó khăn hơn, các bộ sử thi đã được lưu lại một cách chính thống hơn. Tuy vậy, việc dị bản là điều cần được đối chiếu xác thực để có được giá trị chân thật. Ở góc độ sự phát triển của thời đại, những pho sử thi ở Tây Nguyên cũng thưa vắng dần với các thế hệ trẻ, đòi hỏi mỗi cộng đồng tự ý thức tìm được “sứ giả văn hóa” để các pho sử thi cũng chính là hình tượng của mình trong đó, tiếp nối từ nhiều đời đến hôm nay.

Không còn mang chiều sâu cố hữu

Đồng bào Tây Nguyên từ xa xưa đã hình thành phong tục du canh du cư. Vô hình trung truyền thống này là công cụ hữu hiệu để rừng và tài nguyên rừng không bị xâm hại. Điều này gắn liền với những bản trường ca mở đất, mở núi, tạo chiến công tiết chế tự nhiên, nhưng nay phong tục này dần mất đi, những bản trường ca theo đó cũng chỉ mang tên trong hoài nhớ. Ngày nay, việc xóa sổ những phong tục cũ không phù hợp, cũng ít nhiều ảnh hưởng đến lưu truyền văn học dân gian mà những bộ sử thi hiện nay đã chứng minh điều đó.

Bên cạnh đó, trong xã hội Tây Nguyên, dưới sự hình thành của tổ chức làng (bon, buôn, plây, plơi...), những hình thái nghệ thuật được tồn tại trong cộng đồng, như ví von rằng, nếu không có tổ chức làng thì giá trị nghệ thuật dân gian sẽ không tồn tại ở Tây Nguyên. Làng được xem là tổ chức cao nhất trong xã hội cổ truyền người dân tộc Tây Nguyên, bởi làng là tập hợp nhiều gia đình có quan hệ máu mủ, hôn nhân và điều này cũng ăn sâu vào ý thức hệ của từng thành viên giống như “lệ làng” của những làng truyền thống Đồng bằng Bắc Bộ. Trong xã hội truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên, người chủ làng có vị thế rất đặc biệt, gần như chiếm niềm tin tuyệt đối với mọi người trong làng.

leftcenterrightdel

Biểu diễn cồng chiêng trên đường phố. Ảnh: THANH HÀ 

Ngày nay, kết cấu làng đã thay đổi khá nhiều, họ gần như không giữ được truyền thống (còn lại một bộ phận rất ít). Những câu chuyện làng được miêu tả trong câu ca truyền thống đã mai một nhiều, những con suối chặn dòng, núi đã không còn như hiện trạng, làng được cố định, những phong tục bãi bỏ, việc giao thoa văn hóa rõ rệt... Những thực trạng văn hóa và điển hình là văn học dân gian không còn mang chiều sâu cố hữu, hay chỉ là những lời nói “mặc định” mà không còn là sự trải nghiệm được trả bằng máu và nước mắt của thế hệ cha ông. Đó là những thực trạng đáng suy ngẫm cho bất kỳ ai còn được hiểu và nhắc về Tây Nguyên đã khác nhiều so với trong tiềm thức.

Những không gian được tạo dựng

Với điều kiện chủ quan và khách quan, nền văn học dân gian ở Tây Nguyên luôn khoác lên bộ áo thô sơ những câu chuyện đơn giản, hình tượng, như những mảng tượng hình bức tượng nhà mồ trầm mặc, thô sơ nhưng chất chứa nhiều sức mạnh và chính vì điều đó làm nên một kho tàng rất lớn như hiện nay. Bên cạnh những pho sử thi là những lời ca cổ, gắn liền với nếp sinh hoạt thường nhật hằng ngày, những điều thô mộc, tự phát trong đời sống, với văn học dân gian cũng lưu dấu thật nhiều điều tồn tại đến hôm nay.

Trong mỗi chu kỳ sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho mỗi mùa lễ tiết gắn với những bài ca dân ca nghi lễ, được cử hành trang nghiêm gắn với đời sống tinh thần của những sắc tộc nơi này. Những bài ca phục vụ cúng thần nông nghiệp, thần làng, thần cây... thể hiện bức tranh sống động trong sản xuất tại địa phương. Bên cạnh đó, những cuộc săn bắt thú rừng hình thành nên những lời ca khi tiếng chiêng ngân lên mang âm hưởng của cả tập thể gắn bó. Có thể nói ở Tây Nguyên, ý thức hệ cộng đồng thấy rõ rệt hơn cả trong lễ mừng năm mới, lễ bỏ mả, lễ ăn trâu trong năm lôi cuốn cả cộng đồng người tham gia nồng nhiệt, kéo dài mấy đêm liền. Những sinh hoạt nghi lễ, hội, ca... trở thành những luật tục bền chặt cùng đời sống tinh thần. Những bài ca luật tục dần dà ăn sâu vào tiềm thức cộng đồng nơi này, hiển nhiên trở thành hệ thống như lệ làng bắt buộc. Người Ba Na gọi là Bơđơk Kơđi, người Ê Đê gọi là Klây đuê, người M’nông gọi là Nôgơ dôih, người Cơ Ho và Mạ gọi là Nri... Những bài ca này là rất quan trọng trong sinh hoạt lễ nghi được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và thành luật mà mọi người, mọi thế hệ cùng nương theo.

Có thể nói dân ca bình dân của xã hội Tây Nguyên phản ánh rõ bộ mặt đời sống, tư duy thường gắn liền trực tiếp với đời sống sinh hoạt, với cổ tích, thần thoại, qua đó giúp ta xác định phương thức dân ca đầy tâm tình, ý chí khát vọng của cộng đồng, có sức sống mãnh liệt theo thời gian.

Với những lời ca cổ hiện nay còn số ít được nghe trong lời ru, lời ca hiển thị đa số trong những không gian văn hóa được “tạo dựng” như những lời thơ mới. Những tộc người ở Tây Nguyên cũng đã bắt nhịp với xu thế, với thời đại, họ đang tìm cách “níu giữ” những lời ca cổ trên một phong vị mới của thời gian, đâu đó còn ẩn tàng nhiều điều muốn lưu giữ.

Sự mai một của văn hóa là điều nhức nhối, nhất là xã hội với nhiều cám dỗ, sự phát triển “ép buộc” lai căng khiến cho văn hóa đứng trước những thử thách lớn. Muốn lưu giữ văn học dân gian, trước hết văn hóa phải tồn tại để mỗi cộng đồng tự “soi gương” tìm lại những hình ảnh có bóng mình trong đó. Khi văn hóa dân tộc còn thì những trang sử thi, lời ca luật tục sẽ còn tồn tại mãi với sự thôi thúc gìn giữ những giá trị văn học bình dân vô giá này; thì lúc đó mỗi nhịp đập trong tâm khảm của mỗi người tự ý thức để thế hệ sau cùng hướng về Tây Nguyên, để còn được biết sức mạnh của thác nước, sức uyển chuyển của gió vẫn luôn tồn tại như chính mảnh đất này từng tồn tại vậy.

NGUYỄN QUỐC HỌC