Từ tên K’tô, nhiều người dần dần đọc trại âm thành Cô Tô. Tôi tra cứu, thấy núi còn có tên gọi khác theo âm Hán Việt là Phụng Hoàng sơn. Cách gọi Phụng Hoàng sơn bắt nguồn từ hình dáng núi. Bởi, nhìn từ khu vực đồi Tà Pạ (thuộc thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang hiện nay), núi Cô Tô lừng lững như chú chim phượng hoàng khổng lồ sà xuống cánh đồng bạt ngàn xanh lúa, bạt ngàn cây thốt nốt xen lẫn với cây rừng. Chẳng biết chú chim ấy trầm tư điều gì giữa nắng gió suốt ngàn năm, đến nỗi thân chú bám đầy những rong rêu phế tích.

Tôi nhiều lần lặng ngắm chú “chim Phụng Hoàng” từ phía đồi Tà Pạ trong những sáng mù sương, thi thoảng vẫn giật mình với ý nghĩ, biết đâu một ngày nào đó chú chim ấy đột ngột vươn cánh vụt lên giữa thinh lặng sớm mai rồi mất hút vào mênh mông mây trời như chưa một lần ghé đến, để lại một khoảng thẳm sâu nơi miền Thất Sơn huyền diệu. Khi tôi mỉm cười với ý nghĩ kỳ lạ của mình cũng là lúc phương Đông bật lên những tia nắng xé toạc màn mây, chiếu nghiêng vào lông mao, lông vũ “Phụng Hoàng”. Núi Tô tỉnh giấc đón ngày mới từ khoảnh khắc ấy. Đẹp một cách tinh khôi.

Tôi thường nói vui với bạn bè, ngồi xe ôm lên đỉnh núi Tô như đang đi... lên trời. Dốc núi đứng sững, đường hẹp, hai bên lại toàn đá và vực sâu. Người lái xe phải chạy với tốc độ cao, phải giữ ga, nếu không xe sẽ tuột dốc. Ở những đoạn đường cong, họ chạy nhanh rồi thắng gấp, ngoặt trái rồi ngoặt phải. Người ngồi sau phải ôm người lái thật chặt, nếu không có thể bị rớt xuống như chơi. Có người ngồi xe ôm lên đến đỉnh Cô Tô thì hồn xiêu phách lạc, mặt cắt không thấy máu. Người ta vẫn thích lên đỉnh núi Tô vì nơi ấy như chốn Bồng Lai. Có lẽ, nơi ngắm cảnh đẹp nhất trên đỉnh núi này chính là ở Dồ Hội. Đứng trên ấy, ta có thể thu vào tầm mắt cánh đồng rực rỡ sắc màu, như chiếc khăn rằn của người Khmer vắt hờ hững giữa mênh mông núi rừng. Tôi không cho rằng nơi nào quang cảnh thiên nhiên đẹp là do tạo hóa khéo tay. Trái lại, những lúc Ngài vụng về nhất đôi khi lại tạo ra tuyệt phẩm. Điển hình nơi Dồ Hội nhìn xuống, cứ như có ai đó ném bừa chỗ này dăm khóm cây, chỗ kia vài mảnh ruộng, chỗ nọ cụm thốt nốt, rồi lác đác những xóm nhà ẩn hiện bên bìa rừng dựng lên mấy cột khói bếp trong chiều... Tất cả dường như chẳng ăn nhập gì với nhau nhưng lại vô tình tạo ra một bức tranh tuyệt mỹ. Thế mới thấy, đôi lúc sự ngẫu nhiên có giá trị biết bao, cần gì sắp đặt khiên cưỡng.

leftcenterrightdel
Cánh đồng nhiều sắc màu dưới chân núi Cô Tô, huyện Tri Tôn, An Giang.

Núi Tô vào độ này những cây dâu xanh, dâu vàng kết trái sum suê. Trái dâu mọc từ thân cây, thành từng chùm dài từ gốc đến ngọn như những chiếc lục lạc tí hon treo chen chúc nhau. Cơ hồ chỉ một ngọn gió thổi qua, hàng vạn chiếc lục lạc ấy sẽ ngân lên bao thanh âm bất tận hòa lẫn với tiếng chim chóc gần xa bên triền núi. Anh Thành, một người quen của tôi, gắn bó với đỉnh núi Tô từ lúc mới sinh ra, đã chứng kiến bao thăng trầm thế cuộc, đã tận tường từng gốc cây, ngọn cỏ. Nhà anh có hẳn một vườn dâu mấy trăm gốc, nên anh hiểu tính hiểu nết trái dâu sau từng thớ vỏ. Anh nhìn tôi nhăn mặt nhíu mày khi ăn mấy trái dâu núi, cười bảo dâu đầu mùa chua lắm, chỉ khi trời đổ xuống vài cơn mưa, vị chua ấy hòa vào dòng nước mưa về với đất, trái dâu lúc bấy giờ ăn mới thanh, mới ngọt. Tôi cho rằng anh cứ nói hú họa thế thôi, làm gì có chuyện vị chua về với đất. Thế nhưng, niềm tin vào cái tưởng chừng như phi lý ấy dần dần được xác lập khi anh bảo, để có những kinh nghiệm nhỏ nhoi về ngọn núi này, anh đã phải mất mấy chục năm. Tôi nhìn anh, khuôn ngực để trần như một khối gỗ mun, hai bắp tay như hai thỏi thép. Vậy mà cái cười của anh vẫn hiền như ông Bụt. Chợt nghĩ, phải chăng xứ núi này đã hun đúc cho con người sự rắn rỏi về thể chất nhưng vẫn giữ được sự bình dị trong tâm hồn.

Theo chỉ dẫn của anh Thành, tôi đi len lỏi qua những vạt rừng thưa xen lẫn với dâu núi để khám phá K’tô. Bỗng cơn mưa bất ngờ ập xuống. Tôi lúng túng chạy nép vào hết tán lá này đến tán lá khác nhưng vẫn không tránh khỏi những giọt nước trời. May mắn thay, đang lúc chẳng biết trú ngụ nơi đâu thì tôi lại bắt gặp một căn nhà gỗ nhỏ nhắn nằm nép bên sườn núi. Anh Ba Hon, chủ nhà đón tôi bằng nụ cười hiền. Anh pha một ấm nước nóng rồi để vào đó mấy lá sa kê, đoạn rót đưa tôi một ly còn nghi ngút khói. Tôi không uống vội mà áp nhẹ ly nước vào mặt, vào tai. Cái lạnh bỗng chốc tan biến như làn khói nhẹ khuất vào bàng bạc mưa rừng. Tôi uống chầm chậm từng ngụm nước, cảm giác cơ thể ấm dần lên. Đón ly nước thứ hai, tôi mới kịp quan sát căn nhà và chủ nhân của nó. Nhà cất đơn sơ, cột gỗ, vách gỗ, lợp lá. Bên trong căn nhà chỉ có chiếc giường, cái võng, cái ghế xếp, bộ bàn ghế thấp bằng gỗ chúng tôi đang ngồi và vài dụng cụ nấu ăn. Chị Ba Hon đã đi hái dâu bên kia núi, chỉ mình anh Ba ở nhà sửa mấy tấm vách cũ đề phòng mùa mưa bị dột. Anh Ba Hon là người ít nói, vẻ mặt âm trầm. Hai anh chị sống trên đỉnh núi này đã được gần ba mươi năm. Cũng như hơn bốn mươi hộ dân trên đây, anh chị sống bằng nghề trồng vườn, trồng rẫy, quanh năm ít khi xuống núi. Anh kể, xưa kia trên núi này còn hoang sơ lắm, buổi tối khỉ kéo nhau vào bếp nhà lục đồ, lấy chuối, lấy thanh long ăn là chuyện thường xuyên. Có đêm, anh đang ngủ bỗng thấy cồm cộm dưới lưng, thắp đèn lên thì bắt gặp một chú rắn vào “ở trọ bất đắc dĩ”. Mấy lần đầu anh chị còn sợ, nhưng dần dần cũng quen, đôi khi không cần đuổi nó đi, cứ để nó “ở trọ” đến lúc nào... chán thì thôi.

Tôi từng rong ruổi nhiều bận trên miệt Thất Sơn nên chẳng xa lạ gì với những câu chuyện như thế. Mặc dù vậy, nghĩ tới cái cảnh có một chú rắn bằng bắp tay nằm ngủ kề bên, tôi vẫn không tránh khỏi cảm giác lạnh ở sống lưng. Anh Ba còn kể, hồi ấy, mỗi tháng anh chị phải dành ra một ngày để xuống núi “tải” gạo và một số nhu yếu phẩm cần thiết. Nguồn nước xài thì lấy từ các khe đá hoặc mấy con suối nhỏ. Mùa nắng thiếu nước phải xuống chân núi vác lên. Cơ cực như thế nhưng anh vẫn bám núi để sống vì nơi đây thanh tịnh. Mưa vẫn rơi đều khiến núi rừng dường như thêm tịch mịch. Anh Ba dọn cơm mời tôi cùng ăn. Bữa cơm chay xứ núi chỉ có dưa muối, đậu hũ khô với rau rừng luộc nhưng tôi ăn ngon lành.

Cơm nước xong, trò chuyện một lát thì màn mưa đã nhạt, tôi cảm ơn và từ giã anh Ba để tiếp tục hành trình khám phá K’tô. Vừa bước ra đến thềm nhà, bỗng nhiên tôi nghe đâu đó vọng đến một tiếng chuông, rồi ngân dài, ngân dài dường như bất tận. Tôi lần theo tiếng chuông ấy cho đến lúc ngỡ ngàng bắt gặp ngôi chùa nằm nép mình bên sườn núi mây phủ tứ phương. Đó là chùa Vân Long. Sư Thiện Đức trụ trì tiếp chúng tôi tại bàn trà cạnh am mây. Khói trầm hương huyền dịu hòa lẫn vào tiếng chuông chùa, tiếng vị thiền sư khoan nhặt chuyện đời, chuyện đạo khiến tôi ngỡ đây dường như chẳng phải cõi hồng trần. Bao nhiêu lụy phiền phút chốc được gột rửa tinh tươm.

Sư Thiện Đức đã xuất gia được 32 năm. Sư kể, gia đình sư có một người anh và một người chị xuất gia từ nhỏ. Khi ấy, mặc dù sư chưa đi tu nhưng vẫn thường hay vào chùa chơi, có khi ở lại chùa hàng tháng trời. Rồi đến tuổi nhập ngũ, sư cũng tham gia chiến đấu ở chiến trường Campuchia như bao thanh niên khác cùng trang lứa. Rời quân ngũ, sư xuất gia. Tôi nhìn sư Thiện Đức, cố tìm xem có nét gì của một người từng gắn bó với quân ngũ xưa kia hay không, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy. Trước mắt tôi là một vị sư già với gương mặt hiền từ, ánh mắt ấm áp, nụ cười luôn tươi tắn trên môi như một đóa sen. Sư còn kể, chùa Vân Long từng là một căn cứ cách mạng thời chống Mỹ. Bên cạnh chùa hiện nay còn một hang đá trước kia là nơi ẩn nấp, chiến đấu của bộ đội ta. Khi ấy, chỉ có một sư trụ trì phụ trách nhang khói, đồng thời bí mật lo chuyện lương thực cho các chiến sĩ. Ban ngày, các chiến sĩ ẩn nấp trong hang để tránh sự chú ý của quân giặc, đến đêm thì ra khỏi hang làm nhiệm vụ. Giặc nhiều lần ruồng bố nhưng bất thành bởi chính đá Bảy Núi, chính những ngôi chùa như chùa Vân Long và các vị sư giàu lòng yêu nước đã chở che cho cách mạng. Đó cũng là một trong những nguyên do khiến kẻ thù phải rút khỏi mảnh đất này. Tôi ngắm tấm bằng xếp hạng chùa Vân Long là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh mà lòng tự hỏi, trên đất nước này còn bao nhiêu ngôi chùa như thế nữa? Chợt thấy vừa xúc động vừa tự hào khi nghĩ về đất nước ta, một đất nước bao lần bị giặc xâm lăng, đến nỗi các sư cũng phải gác chuyện kệ kinh để tham gia cách mạng. Có điều, khi sạch bóng quân thù, các sư lại khoác áo nâu sồng, lại chuông mõ sớm hôm với nẻo từ bi.

Chia tay vị sư già, tôi xuống núi khi màn đêm đang len khắp các vạt rừng. Xa xa, vành trăng non đầu tháng ẩn hiện sau tán lá. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã hòa vào dòng người tấp nập nơi chân núi, ngước lên chỉ thấy đỉnh Cô Tô tĩnh mịch trầm tư. Tôi hít một hơi thật sâu, khép lại hành trình khám phá K’tô cùng âm vọng tiếng chuông ngân...

Bút ký của TRƯƠNG CHÍ HÙNG