LTS: Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng ta tiến hành đồng bộ các nhiệm vụ; trong đó: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng-an ninh là trọng yếu, thường xuyên.

Trong số này, Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần giới thiệu ý kiến một số chuyên gia về giải pháp xây dựng văn hóa để hiện thực hóa tầm nhìn 2045 của Đảng trong lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật.

* PGS, TS PHẠM DUY ĐỨC: Khâu then chốt của nhiệm vụ "nền tảng"

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Đội ngũ này đóng một vai trò nòng cốt trong việc triển khai, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Hồ Chí Minh đã xác định cán bộ là “cái gốc” của công việc. Vì vậy, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa chính là “cái gốc” của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam.

leftcenterrightdel
PGS, TS Phạm Duy Đức 

Kế thừa và phát triển quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, nhất là cán bộ chủ chốt có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Không bố trí cán bộ làm công tác văn hóa kém năng lực, thiếu bản lĩnh. Rà soát toàn bộ hệ thống các trường đào tạo văn hóa, văn nghệ, đổi mới và hiện đại hóa quy trình, nội dung, phương thức đào tạo để trong 5-10 năm tới khắc phục về cơ bản sự thiếu đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa”. Đây là những yêu cầu rất cao đòi hỏi công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa phải có chuyển biến về chất để đáp ứng được khát vọng đổi mới, phát triển, phát huy các giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhìn lại quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa trong thời kỳ đổi mới vừa qua, đặc biệt là trong 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, chúng ta có thể nhận thấy công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa đã có những chuyển biến tích cực. Quy mô đào tạo về lĩnh vực văn hóa được mở rộng. Công tác đào tạo trình độ trên đại học, về công tác quản lý văn hóa, văn nghệ, về lĩnh vực khoa học chuyên ngành như: Mỹ học, văn học, sân khấu, điện ảnh, điêu khắc, hội họa... được tăng cường. Một số địa phương, trường đại học văn hóa, nghệ thuật đã gửi cán bộ, giảng viên đi đào tạo ở nước ngoài bằng kinh phí Nhà nước và thông qua tài trợ học bổng của nước ngoài. Một số nơi ban hành chính sách trọng dụng nhân tài (Bắc Ninh, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng...). Nhà nước đã điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, danh hiệu Nhà nước đối với những người hoạt động trong các lĩnh vực nghệ thuật đặc thù và các trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian có đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển văn hóa, con người...

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như: Một số nơi chưa coi trọng việc bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, điều động cán bộ không có chuyên môn sang lãnh đạo quản lý văn hóa, văn nghệ. Thiếu chiến lược dài hạn đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quy hoạch đội ngũ, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Chất lượng đội ngũ làm công tác văn hóa, nhất là ở cấp xã còn yếu, hạn chế trong việc tham mưu, xử lý những vấn đề văn hóa nảy sinh trong tình hình mới. Chất lượng đào tạo thấp, nhiều ngành nghề khó tuyển sinh, nhất là các trường cao đẳng, trung cấp và các ngành nghệ thuật truyền thống. Một số trường đại học trình độ giảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu giáo trình, chậm đổi mới việc dạy và học theo phương pháp giảng dạy tích cực, chưa cập nhật được những vấn đề mới và xu hướng vận động của văn hóa, văn nghệ. Chính sách trọng dụng trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân có đóng góp cho sự phát triển văn hóa, nghệ thuật chưa hấp dẫn... Một bộ phận cán bộ làm công tác văn hóa, văn nghệ chưa thực sự gương mẫu, đi đầu trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; chưa chủ động, sáng tạo trong công tác lãnh đạo, quản lý, tham mưu và tổ chức các hoạt động văn hóa. Một số trí thức, văn nghệ sĩ có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, tác động tiêu cực tới xã hội...

Để nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa đáp ứng yêu cầu được nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cần phải đẩy mạnh một số nhóm giải pháp sau đây:

Thứ nhất, là nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của văn hóa và con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Từ đó nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí nòng cốt của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa trong tình hình mới. Đây chính là đội ngũ truyền bá và thực hiện đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ này trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, tập trung xây dựng Chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ Trung ương đến cơ sở. Khắc phục sớm tình trạng bố trí cán bộ không đúng chuyên môn sang công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa ở các cấp. Thực hiện nghiêm chính sách tuyển dụng, bố trí sử dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với từng chức danh công tác, vị trí việc làm của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, có chính sách đãi ngộ, tôn vinh tài năng, tôn vinh những người có công đóng góp cho sự nghiệp phát triển văn hóa.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống các trường đào tạo về lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Chú trọng đặc thù của công tác đào tạo lĩnh vực này, khắc phục tình trạng chồng chéo, tràn lan trong công tác đào tạo. Đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống chương trình, giáo trình, nội dung và phương pháp đào tạo, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng, gắn kết với phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa và phát triển sự nghiệp văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế.

Thứ tư, tăng cường đầu tư các nguồn lực cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, đặc biệt là đầu tư nâng cao chất lượng chính trị và chuyên môn của đội ngũ cán bộ, khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực văn hóa gắn liền với yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng và lan tỏa các giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Triển khai đồng bộ và toàn diện các giải pháp trên đây, góp phần quan trọng vào việc thực hiện Nghị quyết của Đại hội XIII của Đảng trong lĩnh vực xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa hiện nay.

* PGS, TS BÙI HOÀI SƠN: Yêu nước là mạch nguồn của hệ giá trị quốc gia

Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng ta, đất nước ta và dân tộc ta, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước; cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đang náo nức chờ mong, tin tưởng và đặt nhiều kỳ vọng vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng suốt của Đảng.

leftcenterrightdel
PGS, TS Bùi Hoài Sơn 

Tin tưởng vào thành công của nhiệm kỳ khóa XIII, nhưng trong tôi cũng có một trăn trở, suy nghĩ: Tại sao chúng ta phòng, chống dịch Covid-19 tốt, hiệu quả hơn nhiều nước trên thế giới khi mà chúng ta chưa phải là nước giàu, và về cơ bản, sự phát triển khoa học công nghệ và y tế của chúng ta, dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng chưa thể nói là vượt trội so với nhiều nước hiện đang hứng chịu sự tàn phá của virus? Và là người làm việc trong lĩnh vực văn hóa, tôi tìm thấy câu trả lời cho riêng mình. Đó chính là sức mạnh của văn hóa Việt Nam: Đó là tinh thần đoàn kết, chấp nhận hy sinh quyền lợi, lợi ích cá nhân vì lợi ích cộng đồng, dân tộc, tình yêu thương, sự chia sẻ của người dân trong khó khăn, sự động viên tinh thần từ nghệ thuật khiến chúng ta kiên cường hơn trong thử thách, là những truyền thống đáng tự hào, được đúc kết qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đã làm nên tinh thần Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, niềm tự hào Việt Nam, và dẫn đến thắng lợi Việt Nam.

Trong lịch sử, chúng ta đã xây dựng được một hệ giá trị văn hóa Việt Nam giúp chúng ta gìn giữ và phát triển đất nước. Giáo sư Trần Văn Giàu từng đưa ra 7 giá trị con người Việt Nam truyền thống tiêu biểu là: Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa. Những giá trị này trong một thời gian dài đã trở thành hằng số giúp dân tộc ta vượt qua bao khó khăn, thử thách, giữ vững nền độc lập trong các cuộc chiến chống ngoại xâm và đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng đất nước.

Từ thành công Đại hội lần thứ XIII của Đảng, càng cho chúng ta thấy rõ trong bối cảnh đất nước ta đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đang có những tác động lớn lao tới hệ giá trị con người Việt Nam. Bên cạnh những giá trị tốt đẹp tiếp tục được củng cố và phát huy, thì cũng có không ít biểu hiện “lệch chuẩn”, hành vi “phản giá trị”, ứng xử thiếu văn hóa xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống.

Vừa qua, một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện làm chủ nhiệm, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam là đơn vị thực hiện, đã tiến hành điều tra xã hội học trên quy mô lớn với 2.000 phiếu hỏi tại 8 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Lào Cai, Hà Giang, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Dương, An Giang trong hai năm 2018-2019. Kết quả thu được cho thấy 5 giá trị được người dân cho là quan trọng nhất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp là: Trách nhiệm (73,3%), kỷ cương (69,2%), sáng tạo (67,2%), yêu nước (65,1%), trung thực (59,7%).

Xét thấy tầm quan trọng của chủ nghĩa yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử cũng như bối cảnh cần bảo vệ chủ quyền đất nước hiện nay, nhóm thực hiện đề tài đề xuất đưa giá trị “yêu nước” lên hàng đầu, bởi đây là giá trị truyền thống của con người Việt Nam, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt lịch sử Việt Nam cần tiếp tục được phát huy. Do vậy, hệ giá trị mới xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước sẽ là: Yêu nước, trách nhiệm, sáng tạo, kỷ cương, trung thực.

Cũng phải nói thêm rằng hệ giá trị nêu trên mới là “hệ giá trị tổng quát”, “hệ giá trị gốc”, “hệ giá trị chủ đạo”, mà từ đó có thể triển khai thành các “hệ giá trị bộ phận”, “hệ giá trị cụ thể”, “hệ giá trị phái sinh” cho sát hợp hơn với từng đối tượng, thành phần, ngành nghề, lứa tuổi trong xã hội. Có thể thấy, hệ giá trị này đã cố gắng kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời bổ sung những giá trị mới của nhân loại và thời đại nhằm hướng đến hiện đại, hướng ra thế giới và hướng tới tương lai.

Để hiện thực hóa hệ giá trị nêu trên, theo tôi, cần tiến hành đồng bộ, quyết liệt, toàn diện một hệ thống các giải pháp có sự phối hợp chặt chẽ của cả hệ thống chính trị cũng như toàn xã hội. Đó là: 1) Hoàn thiện thể chế, cơ chế quản lý và điều hành đất nước; 2) Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội đồng thời giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; 3) Nêu cao vai trò đầu tàu gương mẫu của tầng lớp lãnh đạo, quản lý xã hội; 4) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về giá trị và hệ giá trị; 5) Phát huy vai trò của các thiết chế gia đình, nhà trường và xã hội trong xây dựng hệ giá trị; 6) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh góp phần hình thành và củng cố các giá trị tốt đẹp; 7) Phát huy vai trò, sứ mệnh của văn học, nghệ thuật trong xây dựng giá trị.

Tựu trung lại, để xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thành công trong thời kỳ mới cần sự vào cuộc quyết liệt của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng sự đóng góp trí tuệ, tâm huyết của toàn xã hội.

* GS TÔ NGỌC THANH: Coi trọng gìn giữ tiếng mẹ đẻ

Văn hóa các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời văn hóa dân tộc. Chính những nét đặc sắc của các dân tộc anh em đã tạo nên nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc. Những năm qua, công tác dân tộc thiểu số luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm cùng những chính sách, chủ trương tốt, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Kinh tế cần đi trước một bước. Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới đã mang đến diện mạo mới cho nhiều vùng khó khăn. Điều đó đương nhiên rất tốt, cần thiết. Nhưng lâu nay chúng thường mang câu “để miền núi tiến kịp miền xuôi” làm phương châm ứng xử và nhiều người đang nhầm lẫn giữa văn minh và văn hóa. Người dân tộc thiểu số miền núi có thể kém về văn minh nhưng về văn hóa thì không kém người miền xuôi, người thành phố. Theo hiểu biết của tôi qua nhiều năm ở với đồng bào dân tộc thiểu số thì họ không bao giờ dùng đòn roi đánh con cái. Nhưng cùng với sự phát triển kinh tế, hội nhập, như một lẽ tất yếu, những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số cũng bị tác động. Chúng ta thường quan tâm chung chung tới việc làm sao cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế-xã hội. Hơn 1.000 văn bản, chỉ thị về công tác dân tộc thiểu số đã thể hiện thái độ trân trọng, quan tâm của Đảng, Nhà nước nhưng thực thi đến người dân như thế nào lại là chuyện khác.

leftcenterrightdel
 GS Tô Ngọc Thanh

Gần hết cuộc đời tôi sống cùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôi có thể sử dụng 5-6 ngôn ngữ dân tộc thiểu số thông thạo nhưng càng ngày tôi càng thấy nhiều người không biết nói chính ngôn ngữ của dân tộc mình. Tôi xót xa khi thấy ở trường nội trú, các cháu được tổ chức thi nói tiếng phổ thông giỏi, mà không phải là thi nói tiếng dân tộc mình. Khi tôi chia sẻ nỗi trăn trở ấy, có người phản biện rằng, làm sao có thể có được 54 kiểu trường cho 54 dân tộc khác nhau được. Tôi đồng ý là vậy nhưng bằng mấy chục năm nghiên cứu của mình, tôi khẳng định rằng, với các dân tộc khác nhau, quan trọng nhất là tiếng nói, mất tiếng nói sẽ mất văn hóa. Gìn giữ, phát triển văn hóa-văn nghệ dân tộc thiểu số nhất thiết trước tiên phải giữ được ngôn ngữ của các dân tộc. Trong tiến trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước, các dân tộc thiểu số, bên cạnh việc rèn luyện, phổ biến tiếng phổ thông, cần phải đặc biệt coi trọng gìn giữ tiếng mẹ đẻ, ít nhất là sử dụng trong gia đình. Trong sinh hoạt cộng đồng, yêu cầu phải sử dụng tiếng dân tộc mình. Sinh hoạt văn hóa của dân tộc phải được diễn ra, phát huy hằng ngày, hằng giờ, liên tục như một lẽ tất nhiên chứ không phải chỉ được biểu diễn, tái hiện trong các sự kiện, ngày hội văn hóa. Cùng với đó, phải có những quy định, chính sách để giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và không làm ảnh hưởng xấu đến văn hóa các dân tộc thiểu số.

Nhà nước có những chủ trương, chính sách về dân tộc thiểu số, nhưng từ chủ trương chính sách khi triển khai xuống các cấp, rồi đến từng dân tộc cụ thể lại phải có những điều chỉnh, phương pháp rất cụ thể, phù hợp với từng hoàn cảnh. Điều đó yêu cầu đội ngũ cán bộ các cấp phải tâm huyết, có năng lực phải là người “ở trong cuộc” và phải được trải nghiệm. Có lần, một cán bộ phòng văn hóa một huyện miền núi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống gặp tôi phàn nàn rằng, đồng bào viết văn bản bằng tiếng dân tộc thì làm sao cán bộ đọc được. Tôi mới nói, anh học tiếng đồng bào đi, nếu không thì tốt nhất là anh chuyển công tác tới địa phương nào không có người dân tộc thiểu số ấy. Phát huy giá trị văn hóa-văn nghệ dân tộc thiểu số trong thời gian tới cần giải quyết được những vấn đề như vậy.

* PGS, TS NGUYỄN VĂN HUY: Không “đóng băng” cái đã có

Tôi mới có chuyến đi Sơn La, đến những bản làng của người Mông, La Ha, Kháng và rất lạ là nhiều gia đình không có ti vi. Khi tôi hỏi dân bản thì được trả lời rằng, họ có điện thoại thông minh rồi, mỗi người một cái, ai thích xem gì, nghe gì thì xem, không cần ti vi nữa. Họ mang theo cả điện thoại lên nương rẫy để giải trí trong lúc nghỉ giải lao. Có lần tôi thấy mấy người ngồi bên bờ ruộng, trùm khăn, áo từ đầu xuống người như đang ngồi ôm nồi nước xông. Lúc sau tôi mới vỡ lẽ vì trời nắng quá nên họ trùm lên để xem điện thoại cho rõ, đỡ bị lóa... Tôi tò mò muốn biết họ xem cái gì? Họ thích xem trên Youtube các clip ca nhạc, lễ hội, phim của người Mông, người Dao... các nước khác và thấy nó như là của dân tộc mình, hợp với văn hóa mình hơn. Vậy thì đó là nguy cơ, thách thức hay sự phát triển? Thực tế thì nhu cầu văn hóa của người dân, không chỉ những trường hợp tôi kể trên, mà cả nước, là rất cao và họ cũng muốn được xem, giải trí, thưởng thức văn hóa bằng những hình thức thể hiện hiện đại, những điệu nhảy hiện đại, những đối thoại, kịch tính trong phim hiện đại phù hợp với nhu cầu, sở thích và tâm lý của họ.

leftcenterrightdel
 PGS, TS Nguyễn Văn Huy

Ở nhiều nước, văn hóa thực sự biến thành động lực cho sự phát triển và họ làm thế nào để văn hóa truyền thống được hòa nhập với cuộc sống đương đại. Giữ bản sắc văn hóa truyền thống không có nghĩa là giữ nguyên, “đóng băng” cái đã có từ trước khiến người ta cứ loay hoay trong cái cổ, làm lạc hậu hóa và không giúp người ta tiến lên cuộc sống hiện đại được. Tôi nghĩ cố giữ nguyên văn hóa truyền thống không phải là phương pháp đúng. Thay vào đó, phải làm sao để cái văn hóa này ăn nhập vào lớp trẻ một cách tự nhiên. Nói là vậy nhưng thực sự để truyền thống đi vào đời sống đương đại phải cần một sự thấu hiểu và rất sáng tạo. Chúng ta đã thấy một số dấu hiệu tích cực như trong nhạc rap-hiện đại, các bạn trẻ kết hợp đưa những yếu tố văn hóa truyền thống vào đó, hay một số chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh tái hiện nét văn hóa các vùng miền rất sáng tạo, hấp dẫn. Múa rối nước cũng đã và đang cố gắng tự làm mới mình cho phù hợp với nhu cầu mới.

Muốn giải quyết được bài toán gìn giữ bản sắc văn hóa trong những năm tới, Việt Nam phải đầu tư vào con người, đào tạo được thế hệ nghệ sĩ có nền tảng tri thức sâu sắc, vừa am tường văn hóa truyền thống, vừa hiểu biết văn hóa đương đại. Và không chỉ có ngành văn hóa, mà để đạt được mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 chúng ta cần đào tạo bài bản, đồng bộ, có chất lượng tất cả các lĩnh vực, trong đó quan trọng là có được đội ngũ cán bộ có trình độ, có tư duy, tầm nhìn. Cùng với đó là đầu tư đúng và đủ về tài chính. Tôi ví dụ ngành bảo tàng ở nước ta hiện nay đang chưa được coi trọng và ứng xử đúng mực, trong khi việc phát huy giá trị di sản văn hóa lại là vấn đề quan trọng. Để 25 năm nữa Việt Nam trở thành nước công nghiệp phát triển theo định hướng XHCN thì không thể thiếu một hệ thống bảo tàng thực sự mang lại đời sống văn hóa tinh thần phong phú cho người dân, có sức hút với du lịch, mang lại giá trị cả về văn hóa và kinh tế. Việt Nam đã có quỹ Nafosted đầu tư cho khoa học công nghệ. Văn hóa cũng cần quỹ đầu tư từ Nhà nước như vậy. Bên cạnh đó, Nhà nước cần cơ chế khuyến khích cho các doanh nghiệp lớn thành lập các quỹ phi chính phủ đầu tư cho văn hóa, giống như nhiều nước phát triển trên thế giới đã làm. Một doanh nhân có nói với tôi, trước đây các doanh nhân Việt Nam nghèo và hèn, nay khác rồi, họ giàu và sang. Nhận xét này cho ta thấy niềm hy vọng vào các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam cùng với việc thành công trong kinh doanh thì có cả việc họ quay trở lại giúp thúc đẩy sự phát triển văn hóa và nghệ thuật như thông lệ trên thế giới. Văn hóa phải từ bỏ tư duy bao cấp nhưng không có nghĩa là xã hội để họ tự bơi, tự kiếm tiền, tự kiếm sống. Văn hóa luôn luôn cần được nuôi dưỡng trong những sự tài trợ khác nhau để sáng tạo ra những sản phẩm tinh thần tốt nhất cho xã hội. Có vậy chúng ta mới giữ được bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa thực sự là một thành tố phát triển trong một đất nước có đời sống khá giả.