QĐND - Trên mảnh đất “Hà Tây quê lụa”, thuộc địa phận Thủ đô Hà Nội ngày nay, không quá khó để tìm lại những dáng nét xưa của một làng Việt cổ Bắc Bộ với cây đa, giếng nước, sân đình... Nhỏ xinh, gọn ghẽ như một chiếc thoi nằm kề bên dải lụa đào là con sông Đáy uốn lượn mềm mại ở phía tây nam huyện Ứng Hòa, Hòa Xá là một ngôi làng như vậy.

Theo cổ thư thì làng Hòa Xá có tên gốc là Nguyễn Xá, thuộc tổng Thái Đường, huyện Hà An, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm Gia Long thứ 14 (1815), tên làng chính thức đổi thành Hòa Xá như ngày nay. Hòa Xá là đơn vị hành chính “nhất xã, nhất thôn”, với diện tích chỉ vẻn vẹn gần 3km2. Từ xa xưa, vùng bãi ven sông này đã là nơi cư dân Việt cổ quần tụ, gây dựng xóm làng, dần dần tạo lập nên một hình thái dân cư với những nét riêng biệt của Hòa Xá: Dám nghĩ, dám làm, tâm trí lanh lợi, giàu sáng tạo…

Nghề truyền thống trồng bông dệt vải của Hòa Xá, tương truyền xuất hiện từ thế kỷ thứ 10, do một vị tướng nhà Đinh là Nguyễn Đức Chính truyền dạy. Đến thời Pháp thuộc, thợ thủ công Hòa Xá lại học thêm được kỹ thuật dệt vải màn của phương Tây, cải tiến và phát triển nghề dệt ngày càng thịnh đạt. Trong kháng chiến, Hòa Xá là nơi chuyên sản xuất, cung cấp cho quân đội ta màn xô chống muỗi và băng, gạc y tế. Vào những thời kỳ cao điểm, cả làng có đến hơn 70% số hộ làm nghề với khoảng 700 khung dệt thủ công, mỗi năm xuất xưởng gần 20 triệu m2 sản phẩm. Sau khi thống nhất đất nước và bước vào giai đoạn xóa bỏ bao cấp, làng nghề không còn nhộn nhịp như trước. Thay vào đó, thợ thủ công Hòa Xá đã từng bước đầu tư sản xuất hiện đại, khung cửi dệt tay thô sơ được thay thế bằng máy dệt chạy điện, cho năng suất tăng gấp ba lần so với thời kỳ trước.

CCB Phùng Văn Quán và kỷ vật “chiếc gậy Trường Sơn”.

Phó bí thư thường trực Đảng ủy xã Đỗ Văn Tuyên - sinh năm 1979, còn khá trẻ với gương mặt thư sinh nhưng cương nghị - không giấu được nỗi băn khoăn khi thu nhập chủ yếu của Hòa Xá dựa vào nghề dệt, vốn đang rất chật vật để tồn tại do sản phẩm không theo kịp thị trường. Là làng nghề có bề dày truyền thống nên sản phẩm dệt của Hòa Xá (chủ yếu là vải xô màn) vẫn được gìn giữ và mang đậm giá trị cổ truyền cả về mẫu mã lẫn chất liệu, trong khi người tiêu dùng đã chuyển sang dùng màn tuyn vừa sạch, đẹp, vừa bền hơn. Do đó, mặc dù không có sự cạnh tranh gay gắt nhưng sản phẩm vẫn không thể phát triển mạnh được ra ngoài thị trường, thậm chí còn bị thu hẹp. Máy móc được đầu tư thêm, năng suất, sản lượng tăng hơn trước rất nhiều nhưng thu nhập hằng tháng của người lao động may lắm chỉ xấp xỉ một triệu đồng. Để tự cứu nghề, Hòa Xá cũng đã rất linh động trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm: Làm miếng lót cho chăn, đệm, đồ giả da… của các doanh nghiệp may mặc trong vùng. Tuy nhiên, đây vẫn chỉ là thị trường tự do, không có gì bảođảm và phụ thuộc hoàn toàn vào các chủ xưởng và đại lý. Nghề dệt cổ truyền của Hòa Xá đang đứng trước nguy cơ mai một dần, trong khi sản xuất nông nghiệp vẫn trong tình trạng manh mún do diện tích đất nhỏ hẹp, không phù hợp với quy hoạch dồn vùng, đổi thửa, phân vùng khu vực sản xuất…

Khó khăn chất chồng, nhưng không bó buộc được trí tuệ và lòng nhiệt huyết của con người. Đó là cảm nhận của tôi khi câu chuyện càng lúc càng trở nên sôi nổi, vẫn xoay quanh việc tìm ra giải pháp xây dựng quê hương trong thời kỳ đổi mới. Nông nghiệp của Hòa Xá trong những năm qua đã dần định hình cho mình con đường phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực: Trồng trọt chiếm 36,11%; chăn nuôi, thủy sản chiếm 63,89%... chuyển đổi dần diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang sản xuất đa canh, chú trọng đầu tư phát triển cây ăn quả lâu năm có giá trị cao.

 “Chúng tôi đang nỗ lực xây dựng một thương hiệu nông sản của riêng mình, là bưởi Diễn… Hòa Xá”. Bất ngờ trước lời chia sẻ hồ hởi của đồng chí Phó bí thư Đảng ủy xã, chúng tôi thêm ngỡ ngàng khi đứng trước khu vườn trồng bưởi của ông Đỗ Tiến Đức ở xóm Bãi, nguyên Chủ tịch UBND xã Hòa Xá đã nghỉ hưu. Bên cạnh khu vực ươm với những thân bưởi còn thấp chỉ độ 30-40cm, mới trổ vài búp lá xanh nõn là những thân cây đã phát triển, lá cành xanh tươi, lấp ló quả non trong ngan ngát hương hoa. Vụ thu hoạch Tết Ất Mùi vừa qua, vườn bưởi sai trĩu quả này đã đem lại cho gia đình ông không ít niềm vui, bên cạnh nguồn thu nhập đáng kể. Thì ra, thứ đất bãi pha cát ven sông Đáy này lại rất phù hợp với giống bưởi nổi tiếng bởi vị ngon ngọt, dịu mát, tưởng chỉ có thể trồng được ở đất Diễn phía Tây Hà Nội mà thôi. Từ lúc được mang giống về trồng thử nghiệm ở Hòa Xá cách đây hơn chục năm, cho đến nay cây bưởi Diễn đã thích nghi được với thổ nhưỡng nơi này, hàng năm đều cho thu hoạch khá, góp phần cải thiện đáng kể thu nhập của địa phương. Mô hình kết hợp trồng trọt với chăn nuôi gà, lợn… đã tạo mức thu nhập bình quân mỗi năm của những hộ nông dân này lên tới 70 - 80 triệu đồng và đang được nhân rộng...

Một góc Bảo tàng truyền thống xã Hòa Xá.

Hòa Xá còn góp phần xây dựng nên hình ảnh một làng quê nổi tiếng là đất học, có nhiều nhân tài đóng góp cho đất nước qua các thời kỳ. Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, hầu như thời nào cũng có những nho sĩ ở Hòa Xá đỗ đạt cao trong các kỳ thi. Đồng đất và con người Hòa Xá từng vang tiếng một vùng thuộc trấn Sơn Nam Thượng xưa kia. Thời kỳ kháng chiến cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vị trí kề cận trung tâm Khu Cháy-ATK của Xứ ủy Bắc Kỳ-phong trào cách mạng ở Hòa Xá đã phát triển khá mạnh. Nơi đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của đồng chí Văn Tiến Dũng từ năm 1942 đến tháng 5-1943. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, mảnh đất này không ngừng đóng góp sức người, sức của cho các cuộc kháng chiến của dân tộc, tiêu biểu là các phong trào “Trao gậy Trường Sơn”, “Tặng nhẫn chung thủy”, lập phân đội dự bị kết hợp rèn luyện quân sự và đẩy mạnh sản xuất… Hòa Xá đã được tuyên dương là Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước…

Cái nắng oi ả của buổi chiều tháng Tư không ngăn được bước chân chúng tôi đi khắp các ngõ xóm Hòa Xá, từ trụ sở UBND xã đến cổng các nhà dân, đâu đâu cũng đỏ rực màu cờ Tổ quốc, hòa cùng với không khí chung của cả nước hướng tới Lễ kỷ niệm tròn 40 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đối diện với trụ sở UBND xã, Bảo tàng Hòa Xá là nơi lưu trữ rất nhiều các tư liệu lịch sử quý giá. Ở đây, tôi gặp lại hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 7-6-1960, khi Bác về thăm và dự Đại hội đoàn kết chống hạn liên huyện Ứng Hòa - Mỹ Đức được tổ chức tại Hòa Xá. Ở đây, tôi cũng lần đầu tiên được nhìn thấy bản gốc ca khúc “Chiếc gậy Trường Sơn” nổi tiếng một thời của nhạc sĩ Phạm Tuyên, mà cảm hứng sáng tác xuất phát từ khí thế hừng hực của một buổi tòng quân ở Hòa Xá, trong bối cảnh hào hùng cả nước “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ngày ấy.

“Chiếc gậy Trường Sơn” là hiện vật có thực ở Hòa Xá và “cha đẻ” của nó là cựu chiến binh Phùng Văn Quán, một người con của quê hương Hòa Xá anh hùng. Năm nay ông đã 74 tuổi nhưng đôi mắt vẫn ánh lên nét tinh nhanh trên gương mặt chằng chịt rãnh thời gian. Tiếp chuyện chúng tôi trong gian nhà giản dị, nằm sâu trong một ngõ nhỏ cuối xóm Thượng Đoạn, ông Quán như một lần nữa được sống lại thời trai trẻ với những hồi ức về đồng đội, về một quãng đời gian khổ mà bi tráng, hào hùng. Ấy là quãng thời gian chiến tranh bắt đầu bước vào thời kỳ ác liệt, bộ đội ta thực hiện kế hoạch di chuyển thần tốc trên đường Trường Sơn, vào thẳng chiến trường miền Nam. Và chiếc gậy Trường Sơn trở thành người bạn đường hữu dụng trên mỗi chặng hành quân. Những người lính trẻ đã khắc dòng chữ “Thà quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” lên thân gậy để thể hiện tinh thần yêu nước, nguyện hy sinh bảo vệ độc lập dân tộc. Một thời gian sau, gặp được người đồng hương đang trên đường ra Bắc, ông Quán bèn gửi chiếc gậy về quê, thay lời nhắn “con còn sống” tới người mẹ già. Thật không ngờ, cây gậy về sau đã trở thành một kỷ vật biểu tượng, mang lại niềm tin và sức mạnh tinh thần cho cả ngôi làng dệt ven sông Đáy.

Từ ngày ấy, người dân Hòa Xá đã phát động thanh niên trong làng tham gia rèn luyện tại địa phương để sẵn sàng lên đường ra trận khi tiền tuyến gọi. Đặc biệt, các cụ phụ lão đã thành lập hội “Bạch đầu quân” chuyên làm gậy, đan sọt đựng đá cho các thanh niên tập luyện. Mỗi lần tân binh Hòa Xá lên đường nhập ngũ, các cụ lại trao cây gậy khắc dòng chữ: “Gậy này là gậy Trường Sơn/ Của trai Hòa Xá lên đường tòng quân”, thể hiện tinh thần và ý chí quyết tâm đánh giặc của quân dân trong làng. Tháng 5-1967, trong chuyến đi thực tế tại Hòa Xá, chứng kiến cảnh trai gái trong làng vai đeo sọt đá, tay chống gậy tre luyện tập vượt Trường Sơn, nhạc sĩ Phạm Tuyên với cảm hứng dâng trào đã sáng tác bài hát: “Chiếc gậy Trường Sơn”. Chỉ không đầy một tuần lễ, ca khúc được lan truyền trên sóng phát thanh và Hòa Xá từ đó được cả nước biết đến là quê hương của “chiếc gậy Trường Sơn” huyền thoại.

Cho đến tận bây giờ, cây gậy vẫn được ông Quán cất giữ cẩn thận trong một chiếc túi vải. Đã một lần bị thất lạc rồi may mắn tìm lại được nhờ một cơ duyên tình cờ, ông nâng niu, coi nó như người bạn thân thiết nhất khi những đồng đội của ông người đã hy sinh, người đã mất vì tuổi cao sức yếu. “Mỗi khi thấy chiếc gậy, tôi như thấy lại hình bóng những người bạn đã từng cùng mình đồng cam cộng khổ… Giờ gậy cũng như một phần cơ thể, xa nó tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Nhìn ánh mắt rưng rưng của người cựu binh già khi vừa nói vừa lấy tay lau chùi chiếc gậy, chúng tôi hiểu vì sao ông lại kiên quyết giữ nó bên mình, dù đã nhiều lần chính quyền xã đến đặt vấn đề, xin được mang về bảo tàng lưu giữ…

Tạm biệt Hòa Xá, xuôi theo con đường đê hai bên lúp xúp những bụi hoa xuyến chi cánh trắng nhụy vàng để trở ra thị trấn Vân Đình, ngược về Hà Nội, chúng tôi mang theo những câu chuyện về một vùng đất anh hùng trong những ngày tháng Tư lịch sử. Bất giác, trong tôi chợt ngân lên giai điệu hào hùng của bài hát đã đi cùng năm tháng: “Trường Sơn ơi, cho dẫu hiểm nguy bền tâm vững chí, trong bước đi nghe tiếng đồng quê, nghe gió reo bờ tre gốc lúa, nghe tiếng người mến thương vẫn dặn dò, giữ vững truyền thống của đất nước…”, dấy lên một niềm tin mãnh liệt vào sức sống của quê hương “Chiếc gậy Trường Sơn” huyền thoại một thời…

Ghi chép của LAM BÌNH