Buổi sáng, thức dậy, vợ chồng tôi quày quả đi làm, các con tôi quày quả đi học, đến chạng vạng thì về. Mẹ tôi ở nhà một mình suốt ngày.

Mẹ tôi khó ngủ, người già nào cũng vậy. Mẹ dậy rất sớm. Mẹ sửa soạn áo quần cho các con tôi đi học, rồi nấu nước và đổ vào bình thủy. Bỗng một ngày, khi tôi thức dậy, thấy mẹ ngồi bần thần nhìn trời. Thấy tôi, mẹ đăm chiêu rồi từ tốn hỏi:

- Chú là ai?

Tôi biết mẹ giỡn với tôi.

- Em là Phú, con bà Bội Viên. - Tôi cười.

Ánh mắt mẹ vô hồn nhìn tôi! Mấy bình thủy chưa có nước nóng! Tôi bắt đầu hoảng hốt. Tôi đến bên mẹ, lay nhẹ vào vai mẹ.

- Mẹ ơi, con đây mà. Mẹ... - Tôi khẽ kêu lên.

Tôi run. Và tôi sợ. Tựa hồ tôi đang rơi tự do xuống một cái vực. Tim tôi đập nhanh hơn. Ruột gan tôi nóng như có ngọn lửa đỏ trong ấy. Tôi muốn ôm mẹ mà khóc. Nhưng, từ nhỏ, mẹ và các o tôi dạy rằng quân tử ai đời ứa lệ. Vậy là buổi sáng ấy, tôi chỉ có thể ôm lấy mẹ. Lòng tôi bấn loạn.

Mẹ khi nhớ khi quên. Tôi mua những thứ bổ dưỡng cho trí nhớ người già. Mỗi tối, tôi dành một giờ đồng hồ để trò chuyện với mẹ. Nhưng, những gì tôi nỗ lực làm cho mẹ không giúp căn bệnh trầm kha ấy khá hơn. Mẹ tôi đã quên hẳn tên tôi.

Đi làm về, tôi thấy nhà tối om. Tôi gọi mẹ. Gọi mẹ khi tối trời là bản năng của những đứa con. Không thấy mẹ, tôi hoảng. Tôi vội tìm mẹ ở các phòng ngủ, vẫn không thấy. Có linh tính chẳng lành, tôi từ từ đi đến trước nhà vệ sinh. Muôn vàn hình ảnh chạy lướt qua tâm trí. Tim tôi đập hối hả. Tôi sẽ nhìn thấy gì đây? Những ý nghĩ làm tôi run lên khi vặn tay nắm cửa. Lòng tôi bỗng gợn lên một nỗi ăn năn khi để mẹ ở nhà một mình. Đập vào mắt tôi, căn phòng vệ sinh không bóng người.

Tôi chạy lên phòng thờ, thấy mẹ nằm co ro dưới sàn. Mẹ đã bắc ghế, lấy di ảnh của ba tôi xuống, ôm vào lòng và thiếp đi. Gương mặt mẹ thanh thản đến vô cùng.

Tôi không đánh thức mẹ. Tôi lặng lẽ ngồi bó gối trong bóng tối. Ánh đèn đường vàng nhợt nhạt chiếu vào phòng thờ, đủ để tôi có thể ngắm nhìn mẹ. Tôi nghĩ, lúc này, tôi có thể chảy nước mắt được rồi...

Vợ tôi đi công tác cả nửa tháng nay mới về. Tối, tôi lên giường nằm trước. Tôi trăn trở. Bệnh alzheimer của mẹ tôi ngày càng trở nặng. Và tôi chỉ sợ, một ngày nào đó, như tối nay, về nhà mà không thấy mẹ. Mẹ không nằm ngủ ở phòng thờ nữa, mà lang thang trong đêm. Đêm tối. Gió lạnh. Đói lả. Tôi không chịu nổi khi mẹ ở trong hoàn cảnh ấy. Hình ảnh mường tượng đủ làm tôi quay quắt lòng.

Vợ tôi thoa kem dưỡng xong thì lên giường, nằm gối đầu lên tay tôi. Em thủ thỉ điều gì đó với tôi, rất ngọt nhẹ. Tôi không để ý, bởi tâm trí tôi đang bùng nhùng một mớ suy nghĩ hỗn độn và rối ren. Tôi rụt tay lại rồi đi ra ban công. Em không nói gì, có lẽ chỉ dõi theo bóng lưng tôi bằng một ánh nhìn khó chịu và đầy hoài nghi.

Tôi đốt thuốc và hút liền hai điếu. Đêm ở thành phố này tẻ nhạt đến khôn cùng. Gương mặt đêm sâu hút hiện ra trong làn khói thuốc trắng mờ. Khói tan thì hình hài đêm biến mất. Chỉ còn tôi với những suy tư đứt gãy.

Em ngồi xuống bên tôi.

- Nói cho em nghe anh đang bận lòng chi được không? Em ghét cay đắng sự mập mờ.

- Khi còn minh mẫn, mẹ nói nhớ Huế, muốn về từ đường lo hương khói tổ tiên. Bây chừ anh nghĩ, chỉ có về lại Huế mới giúp bệnh mẹ khá hơn.

Em ngó nghiêng tôi, gắt giọng:

- Anh đừng chiều mẹ quá. Tuổi già ai mà không nhớ quên lẫn lộn?! Anh quan trọng hóa vấn đề là giỏi.

Nói rồi, em đứng dậy và quay lưng đi vào. Muội đêm là những màng sương giăng. Khuya trở mình nên lạnh. Tôi hút điếu thuốc thứ ba.

Bất giác, tôi nhớ mẹ của năm xưa. Ba tôi đã nằm lại ở chiến trường. Mẹ tôi một mình, nhờ vào gánh bún bò lò củi dọc bờ sông An Cựu mà nuôi nấng chúng tôi từ khi còn ẵm ngửa. Cuộc sống của một góa phụ không mấy dễ dàng. Khó khăn từ đồng tiền cho đến bao điều tiếng của người đời. Và cái khủng khiếp nhất của một sương phụ là cô đơn khi đêm về. Phải, bây chừ, mẹ già rồi, tôi phải làm gì đó cho mẹ.

leftcenterrightdel
Minh họa: PHÙNG MINH 

Hôm sau, tôi điện cho sư cô Tịnh Nhiên đang tu học ở Huế. Sư cô là em gái của tôi, xuất gia năm mười bốn tuổi. Chuông điện thoại reo nhưng không ai bắt máy. Tôi nhìn đồng hồ mới sực nhớ ra, giờ này, sư cô đang tụng kinh giờ Ngọ. Chiều, tôi điện lại. Sư cô bắt máy. Tôi kể ý định đưa mẹ về Huế. Sư cô nói, nghe giọng thì đoán là đang mừng vui:

- Anh ơi, được rứa thì còn chi bằng. Người Huế xa Huế lâu chịu không nổi mô.

Rồi sư cô ngập ngừng, hạ giọng, ướm lời:

- Mẹ về thăm hay ở luôn?

- Trước mắt là đưa mẹ về thăm chơi một thời gian.

Tôi đưa mẹ về Huế. Mẹ tôi không nhớ “Huế” là chi. Đợt ấy, vợ tôi lại đi công tác. Tôi nhắn tin cho em trước một đêm, mang tính chất thông báo sự việc. Em đọc tin nhắn mà không trả lời. Em đang trong hội thảo khoa học, hay em không muốn trả lời tôi? Tôi thầm mong em hiểu cho tôi. Em sẽ thấu hiểu khi lúc nào đó em nhận ra, một mai, em và tôi sẽ già đi, và còn đó những đứa con.

Trời Huế ngày mẹ tôi trở về mát dịu. Cơn mưa thoáng qua chóng vánh đủ để gột rửa bụi bặm cho thành phố rêu phong, cho cả ngôi nhà rường của chúng tôi. Cánh cửa cổng vòm bằng gỗ hé ra, mẹ bước vào. Một phần ký ức nào đó còn sót lại, hoặc khung cảnh xưa nhắc nhớ, đánh động mẹ. Qua bức bình phong, mẹ tự khắc vào nhà bằng lối bên hữu, dẫu lối ấy nhỏ hơn và phải quành sang. Tôi vào nhà bằng lối bên tả.

Tôi mở những liếp cửa gỗ, mẹ cúi đầu nhìn ngưỡng cửa, nhấc bước chân, khẽ vào nhà. Tôi thắp hương lên bàn thờ. Bất giác, mẹ tôi ngồi xuống theo kiểu xếp đè mà vái lạy.

Cơn mưa đã đi qua, nhưng những giọt nước trong vẫn còn đọng lại bên hàng hiên, thỉnh thoảng rơi xuống từ mái ngói liệt. Sư cô Tịnh Nhiên về nhà. Mẹ tôi thấy sư cô thì chấp tay, chào hỏi, nhưng vẫn không nhận ra con mình. Sư cô ôm chầm lấy mẹ, rấm rứt. Tôi nghĩ, sư cô sướng hơn tôi nhiều, đơn giản vì được khóc trong lòng mẹ.

- A Di Đà Phật, sư cô nín đi, nín đi. Răng lại khóc chứ?! - Mẹ tôi thoa thoa lưng sư cô mà nói.

Tôi ngồi ở bộ bàn ghế tràng kỷ, bất giác mỉm cười.

Ở Huế, mỗi ngôi nhà rường đều được bao bọc trong một khu vườn cây trái xanh tươi. Người Huế sống và tâm tình cùng thiên nhiên. Trong vườn có nhiều hoa trái, mỗi cây đem lại một giá trị khác nhau, như ăn quả, như cảnh, như hương và còn để lưu dấu ký ức. Song, mỗi khu vườn đều có một loại cây đặc sản, nổi bật. Nó phù hợp và phát triển tốt trên mảnh đất, thổ nhưỡng ấy. Tỷ như Nguyệt Biều nổi tiếng với những vườn thanh trà. Về Phước Tích cơ hồ nhà nào cũng có vài cây vả trong vườn. Còn mảnh vườn nhà tôi, ngon nhất và trồng nhiều nhất là măng cụt.

Chiều ấy, mẹ tôi lọ mọ dưới bếp. Tôi hỏi. Mẹ nói đang tìm đôi quang gánh để gánh nước tưới cho mấy cây măng cụt. Đó là thói quen của mẹ tôi năm xưa. Tôi lấy ra chiếc đòn gánh đã phủ bụi, lau qua loa cho nó. Mẹ tôi thong thả xuống bến. Trước khi đi gánh nước, mẹ với tay ngắt hai cái lá vả. Tôi tha thủi theo sau bước chân mẹ.

Sông Hương chảy qua trước ngôi nhà của tôi, mềm mại, lững lờ. Tàn ngày, mặt trời lặn xuống quá nửa dưới ngọn núi phía thượng nguồn dòng sông. Nước sông Hương loang một màu cam ối. Những chiếc thuyền rồng vội vã xuôi dòng về bến Tòa Khâm trước khi trời tắt nắng.

Mẹ gánh hai đầu nước, đậy lá vả lên mặt xô để khi đi nước không bị sánh ra ngoài. Trước khi gánh lên, mẹ chao chân xuống nước. Tôi nín thở sợ mẹ không gánh nổi. Tôi nói để con gánh giúp. Mẹ xua tay:

- Ngày mô tui cũng gánh bún dọc sông An Cựu, hai xô nước ni ăn thua chi.

- Mẹ ơi, mẹ còn nhớ bán bún hả? - Tôi hỏi, giọng vỡ ra mừng rỡ.

- Tui bán bún nuôi con tui.

Những gốc cây trong vườn được mẹ gánh nước sông Hương lên tưới. Mùa măng cụt ra trái, chín ngọt lành trên cây. Mẹ ngồi xuống bên gốc cây măng cụt, thở dốc. Gió từ sông Hương thổi vào vườn mát rượi, làm mấy sợi tóc mai của mẹ bay lăn tăn. Tôi định với tay hái một trái măng cụt thì mẹ can ngăn:

- Đừng hái. Tui để dành trái măng chín cho con tui. Chú hái rồi, con tui đi học về, còn chi cho hắn?

Mẹ tôi biết trồng măng cụt cho con trai mẹ, vậy mà mẹ lại không nhận ra tôi.

Tâm trí mẹ tôi đang sống trong những tháng ngày tuổi ba mươi, bốn mươi. Hồi ấy, mồ hôi mặn rát và những tiếng thở dài xao xác trở đi trở lại đêm ngày, cũng may mà có khu vườn và bóng mát của cây măng cụt đã nương dìu mẹ đi qua dâu bể cuộc đời.

- Chú thấy không, trái măng chín ngọt trên cây, bóc ra coi như ngọc. Vua ban tên giáng châu(*) thiệt hợp.

Gió mát sông Hương thản nhiên đưa đẩy câu nói “mô tê răng rứa” của một người Huế ly hương trở về.

Một giọt mồ hôi lăn xuống bên thái dương mẹ. Ngày mai, tôi sẽ ra chợ Đông Ba mua cho mẹ một chiếc nón lá bài thơ. Để những chiều sau nữa, mẹ sẽ đội nón gánh nước. Khi mệt, mẹ lại ngồi xuống bên gốc cây này, phe phẩy nón lá. Ký ức và hiện tại sẽ về trong gió. Tôi và sư cô Tịnh Nhiên của bây giờ về trong mẹ, sẽ nhanh thôi.

(*) Khi măng cụt được đưa về kinh, vua Minh Mạng đã đặt một cái tên khác cho nó là giáng châu.

leftcenterrightdel
Tác giả Nguyễn Văn Đức Anh. 
“Mảnh vườn giáng châu” lay thức chúng ta về những chấn thương tâm lý đời thường tưởng như vụn vặt nhưng đau nhói. Lằn ranh lựa chọn giữa công việc, tương lai, hạnh phúc cá nhân và trách nhiệm với các thành viên trong gia đình không phải là điều dễ dàng. Không chọn lối viết căng thẳng, gai góc mà bằng thứ văn chương đậm chất Huế, tác giả Nguyễn Văn Đức Anh kể chuyện bằng dòng cảm xúc nhẹ bẫng như chính gánh bún bò lò củi và mảnh vườn măng cụt của bà Bội Viên. Sống chậm để chạm vào những khoảnh khắc tinh thần mong manh của những người xung quanh chúng ta, đó là cách ứng xử nhân văn trong câu chuyện mà tác giả trẻ muốn chuyển tải đến bạn đọc. (TS CHU ĐÌNH KIÊN)

Truyện ngắn của NGUYỄN VĂN ĐỨC ANH