leftcenterrightdel
Tiến sĩ Nguyễn Thành Hưởng. 


Thơ Nguyễn Thành Hưởng giản dị mà giàu sức gợi, chưng cất ánh sáng nội tâm từ ký ức chiến tranh, tình yêu quê hương và những suy ngẫm về con người. Hình ảnh đời thường được chuyển hóa một cách tự nhiên thành biểu tượng của lòng nhân ái, đức hy sinh, niềm tin và sự bình yên. 
(Nhà phê bình HOÀNG ĐĂNG KHOA chọn và giới thiệu)

 
Bài thơ nơi khu tưởng niệm Gạc Ma
 
Bạn hằng muốn nhìn đất trời trong tĩnh lặng
Biên giới là từ bi
Núi cao là tiếng hát
Sông chở yêu thương
Và biển xanh cho lứa đôi tha hồ mơ mộng
 
Trước trận chiến năm nào
Nhiều người trong số bạn tôi
Ăn với tôi bữa cơm chia tay
Bữa cơm sinh viên thời bao cấp
Tay nắm chặt tay
Chung lời ca như sóng nối thành vòng
Trước hải trình chỉ là câu chuyện quê hương
Chuyện làng chuyện xóm
Chưa ai kịp kể về một mối tơ vương, một tình đầu dang dở
Trong như giọt nước giếng quê
Sáng như ngọc trai đáy bể
 
Ba mươi sáu năm sau
Tôi đứng đây nơi vòng tròn bất tử
Nghe khúc nhạc trầm hùng hồn tử sĩ
Sáu mươi tư anh hùng tử trận
Sáu mươi tư người lính Cụ Hồ
Sáu mươi tư trái tim bất khuất hóa mặt trời
Những mặt trời sáng soi lòng yêu nước
 
Máu liệt sĩ là hồn thiêng của biển
Để xanh ngọc sóng vỗ ngàn năm
Xương anh hùng thay cốt thép
Cắm chặt cột mốc cho đảo mãi không chìm
 
Lính biển xa khơi
Sống chung boong tàu
Chết chung ngôi mộ gió
Gạc Ma thành tên chung
Tên-của-những-anh-hùng.

leftcenterrightdel
 

Văng Mu
 
Khi tôi sinh ra
Nơi đỉnh Văng Mu
Mìn lá đang cắt chân các anh cùng đồng đội
Biệt kích dù thả trắng đồi
Những đàn cò
Không phải trên cánh đồng
Những đàn cò mang theo cái chết
 
Trên đỉnh Văng Mu
Con đường ra trận chỉ một chiều
Không kịp đếm bom rơi
Không kịp nghe tiếng gọi
Hướng về Nam
Con đường bầm tím vết thương
Lỗ chỗ tái sinh sau mỗi lần bom giội
Chín mươi lăm chiến sĩ Tiểu đoàn 31
Chín mươi lăm đời trai
Chín mươi lăm hồn linh cầm súng
 
Văng Mu ơi
Những linh hồn tôi tin không về trời
Không bay cùng mây trắng
Các anh hòa vào đất đá
Để con đường trở nên bất tử
Để máu chảy về tim
Văng Mu nén chặt anh linh
 
Văng Mu ơi
Bóng xưa khắc sông núi
Rưng rức hồn đá vỡ oà
Cho mùa xuân nở hoa
Núi sông nối liền câu lục bát
Cho tôi sinh ra
Đàn cò mưa nắng vào ca dao
Máu xương sinh nở máu xương.
----------
 
Cờ Tổ quốc
 
Sáng hôm nay một sáng mùa hè
tay tôi run nhận lá cờ từ đảo
tim tôi dâng sóng dập dồn bãi đá
hồn tôi rung như gió giữa Trường Sa
 
Ôi lá cờ Tổ quốc thiêng liêng
gửi từ đảo Sơn Ca phía biển
nơi hút gió Biển Đông oanh liệt
để Tổ quốc ta mãi rộng dài
 
Tôi lại thấy ngàn xưa hiển hiện
những đoàn quân, ngựa hý, voi gầm
dưới cờ hồng, trống nổi, chiêng vang
tiếng tổ tiên nay lại rất gần
 
Cờ từ đảo bạc màu như áo lính
cờ như cha mặc bão tố phong ba
cờ như mẹ còn đây đường chỉ vá
để Tổ quốc ta mãi vẹn toàn...
--------
 
Tiễn chị
 
(Kính dâng nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ)
 
Ngày chiến tranh chị khóc
nơi hố bom
cả một khoảng trời
niềm tin xanh vời vợi
Nay người rơi nước mắt
bài thơ thành nỗi nhớ
ngửa mặt thấy trời
chíu chít hố bom
“Đất nước mình nhân hậu
có nước trời xoa dịu nỗi thương đau”
người nước mình từ bi
nên hố bom chứa cả khoảng trời
Thôi chị đi
còn chúng em tin vậy
tình yêu và thơ
lại tiếp vá những hố bom...
---------
leftcenterrightdel
 
Những ngôi sao không lặn bao giờ
 
Cứ mỗi lần cùng ba ra sông
Con lại sờ những vết sẹo nơi ba
Dẫu liền da
Vết sẹo chẳng thể nào tan được
 
Con nhìn vết sẹo nơi người ba
Những ngôi sao mọc lên từ máu thịt
Chùm ánh sáng xuyên vào con
Những ngôi sao không lặn bao giờ.
------------
 
Phù sa
 
Có những gió mưa
Cho ta mong ngày nắng
Có những buồn đau
Cho ta nhớ cội nguồn
 
Có những bão dông
Cho ta ân nghĩa ruộng đồng
Có những xót xa
Cho ta yêu từng hạt phù sa
 
Phù sa là nước mắt
Nên phù sa biết chảy
Trong phù sa có máu
Nên phù sa màu hồng.
----------
leftcenterrightdel
 

Khuya
 
Sông chảy theo dòng
Sao nước mắt đến từ vạn nẻo
Mưa theo mùa
Sao nước mắt cứ ướt quanh năm
 
Trên cao kia
Vầng trăng cất tròn đầy nơi hao khuyết
Người một đời
Cất những mọc lặn tháng ngày trôi
 
Từng khuya từng khuya
Em cất trăng vào lòng
Tôi cất em
Vào trong giản dị những tin yêu.