Bà Hong ngồi nhìn xa xăm về phía bên kia đồi rồi thở dài, tiếng thở dài còn dài hơn cả dòng Ayun Pa đục ngầu phù sa đang uốn lượn chảy quanh làng. Bà nhớ con H’Yêm, nó bặt tăm tích cũng một thời gian rồi, bà Hong không tin con H’Yêm bị Ma lai ăn thịt, bà vẫn hy vọng nó đi đâu đó rồi sẽ báo tin về nhà. Nhưng thời gian trôi qua, không một cuộc điện thoại, không một tin nhắn gửi về.

Trong làng chẳng phải một mình bà Hong nhớ con H’Yêm, mà bà H’Mai nhớ con H’Nhĩu, bà H’Ru nhớ con H’Ly, bà H’Thích nhớ thằng Ksor Niên, bà H’Tiêng nhớ thằng Ksor Wit... Đứa mất tích lâu thì hơn năm, đến vài tháng, có đứa mới vài tuần. Những người mất tích đều là thanh, thiếu niên. Lũ con gái đi, những cái khung dệt cũng buồn hẩm hiu ở góc nhà, chỉ còn vài người phụ nữ lớn tuổi vẫn lặng lẽ ngồi dệt, trong nỗi nhớ nhung về một nơi xa mơ hồ nào đó.

*

Già Kel ngồi nhìn thằng Duân hì hục chẻ nhỏ từng cây lồ ô, tre, nứa. Những cây “vừa tuổi” đã được lựa chọn kỹ trong rừng, để có độ dẻo, rồi đem ngâm nước, phơi khô, chẻ và chuốt sợi nan thật đều, mỗi công đoạn đều cần độ tỉ mỉ, chỉn chu. Nghề đan lát truyền thống ở làng Thung được truyền lại hàng ngàn đời nay. Theo tục lệ, người con trai lớn lên sẽ được cha ông mình dạy cho nghề đan lát. Bởi chỉ cần nhìn vào chiếc gùi, hay từ cái rổ, cái rá cho đến cái nong, cái nia là đủ biết sự khéo léo, chăm chỉ, cần cù của đàn ông Jrai. Già nhìn cái sân rộng năm ngoái vẫn còn tràn ngập tiếng cười của những đứa trẻ, mà giờ không gian vắng lặng, chỉ còn thằng Duân với thằng Luk lúi húi làm việc.

Già Kel thả những sợi khói từ cái tẩu thuốc loang vào không gian chiều hoang màu cam nhạt của những ngày hè đang tới. Từ năm 11 tuổi, già đã học đan lát các loại gùi, rổ, rá, nong, nia và một số thành phần của nhà rông, nhà dài... với các hoa văn và độ khó khác nhau. Già còn sáng tạo loại gùi hai lớp, lớp trong giống như những chiếc gùi bình thường còn lớp ngoài được trang trí tỉ mỉ, độc đáo hơn, mà chỉ mỗi làng này mới có. Cả cuộc đời tâm huyết của già, mỗi sản phẩm đều mang linh hồn của làng Thung, mang tính cách và con người Jrai. Già muốn truyền lại những kỹ thuật đan của cả đời mình cho lớp trẻ, nhưng chúng học được vài bữa lại bỏ đi đâu mất, để lại nỗi lo lắng cho cả làng. Cái hôm thằng Duân hớt hải chạy về báo có Ma lai, già cũng giật mình. Chuyện Ma lai ở làng không phải chưa có. Già Kel nhớ lúc già còn nhỏ, tầm 5-6 tuổi đã chứng kiến trai tráng trong làng vây bắt một con Ma lai chính là bà Nê sống một mình ở rìa làng, ít tiếp xúc với bà con xung quanh, nhưng mỗi lần già Kel và đám trẻ đi qua bà đều cho vài quả ổi hay quả xoài. Những câu chuyện về Ma lai cứ truyền tai nhau năm này qua năm khác mà chính già Kel cũng không biết truyền thuyết nào là chính xác. Và đến giờ, những đứa trẻ trong làng lần lượt bỏ đi khiến già liên tưởng đến Ma lai, những con Ma lai đã ngủ yên, lẽ nào sống dậy. Tiếng già Kel thở dài như cái tàn thuốc tuột ra khỏi tẩu, vệt dài, nâu xám, lả tả rơi.

leftcenterrightdel
Minh họa: PHÙNG MINH 

Thằng Duân mang cái gùi mới đan xong qua nhà bà Hong rồi lặng lẽ đặt vào trong góc nhà, cúi xuống lấy đi cái gùi cũ đã nát mang đi. Ngôi nhà nhỏ từng ngập tràn tiếng cười của H’Yêm, của H’Xíu mà nay vắng lặng. Bà Hong đã lên rẫy, con H’Xíu đang cuộn mình ngủ trong chiếc chăn thổ cẩm mà H’Yêm dệt trước khi đi. Duân đứng nhìn con H’Xíu ngủ, rồi nhìn cái chăn thổ cẩm, môi mấp máy định gọi con H’Xíu dậy nhưng rồi lại quay đi. Thằng Duân vẫn biết những đứa kia đi theo thằng Sang kiếm tiền, nhưng không có tin tức gì khiến cho người trong làng đều nghĩ đám trẻ bị Ma lai bắt đi. Lâu dần cả Duân cũng nghĩ như vậy. Nếu ngày đó thằng Duân đi cùng con H’Yêm thì có lẽ thằng Duân sẽ không phải mỏi mòn như lúc này. Thằng Duân đã chọn ở lại vì người cha mù của mình ngày càng yếu. Ngày H’Yêm đi, nó dúi vào tay Duân một cái áo lễ hội: “Mày ở nhà lo cho đủ trâu bò đi, rồi đợi tao về”. Vậy mà gió mùa hạ rồi qua thu, chuyển đông cứ thế mà thổi, vẫn chưa thấy bóng dáng con H’Yêm đâu.

Dưới sự chỉ dạy của già Kel, kỹ thuật đan của thằng Duân nay đã thành thạo, những cái gùi thưa dùng để đựng trái cây, đồ đi làm rẫy; các loại gùi kín, dày dùng để đựng gạo, bắp, hạt giống...; gùi dùng để biểu diễn trong lễ hội thì Duân đan rất công phu và không thể thiếu hoa văn truyền thống của người Jrai trang trí trên đó. Thằng Duân muốn khoe với con H’Yêm những sản phẩm mới của mình, nhưng giờ chỉ là những chờ đợi xa xăm. Con H’Yêm chỉ gọi về một lần duy nhất, rồi sau đó thằng Duân đợi mãi vẫn chưa có thêm tin tức gì.

*

Những ngày cuối năm, cơn gió mùa đông xào xạc thổi, những chiếc lá còn sót lại trên cành khẳng khiu cũng lặng lẽ rơi. Giữa cái rét căm căm, H’Yêm cắm đầu chạy, chạy trong sự hoảng loạn, cứ thấy phía trước có khoảng trống là H’Yêm chạy, không biết bao lâu, không biết bao xa, nhưng H’Yêm cứ chạy mãi. Đến khi trời bắt đầu hửng sáng, tiếng côn trùng không còn ra rả dồn dập liên tục nữa, những bước chân của H’Yêm mới chậm lại, H’Yêm cúi người thở gấp, nhìn về phía sau lưng, ngoài tiếng rì rào của lá, của gió và tiếng réc réc của côn trùng thì không có tiếng động gì khác. Lúc này H’Yêm mới ngồi thụp xuống, thở ra, thân thể cô đầy những vết xước do cây cỏ rừng va đập, những ngón chân đã tướm máu, đau rát.

H’Yêm cũng giống như mấy đứa kia, nghe thằng A Sang nói lên thành phố làm nhiều tiền lắm, nhìn những tập tiền dày cộm trong túi thằng Sang mà H’Yêm đã tin tưởng đi theo nó. Nhưng viễn cảnh tươi đẹp thằng A Sang đã vẽ ra không có, chỉ có tiếng chửi mắng, đánh đập nếu không làm việc đúng tiến độ. Một màu đen bao trùm lấy những đứa trẻ như H’Yêm. H’Yêm không được gặp con H’Nhĩu, H’Ly, H’Nen, tụi nó được đưa đi nơi khác. Chỉ có một mình H’Yêm ở lại nơi xa lạ, bị ép phải làm việc quá sức, điện thoại bị thu không thể liên lạc, không thể bước ra ngoài. Nhiều đêm nằm co người trong một căn phòng chật hẹp, H’Yêm nhớ bà Hong, nhớ H’Xíu, nhớ Duân, nhớ cái khung dệt của mình, nỗi nhớ ấy chính là nguồn sáng duy nhất của H’Yêm trong những ngày tăm tối này. H’Yêm không nhớ qua bao nhiêu ngày, qua bao nhiêu tháng, H’Yêm cũng không biết mình đang ở đâu? Chỉ biết mình đang ở vùng biên giới, bao quanh là rừng. H’Yêm đã từng thấy những đứa bỏ trốn bị bắt lại, số phận của chúng bi thảm đến nhường nào, nên H’Yêm không cho phép mình bị bắt lại, nếu bị bắt lại chỉ có con đường chết. Nghĩ đến đó, H’Yêm rùng mình, nhưng việc bỏ trốn chưa bao giờ tắt trong H’Yêm. Và cơ hội tới, H’Yêm trốn lên xe chở lương thực sau khi đã bốc dỡ hàng xong và quay trở về. Nằm trong thùng xe, H’Yêm nhắm mắt cầu cho Yàng giúp mình và có lẽ Yàng đã nghe thấy lời của H’Yêm, chiếc xe đi được khoảng khá lâu rồi, H’Yêm mới cố gắng nhảy ra khỏi xe và cắm đầu chạy...

Lúc này H’Yêm mới bình tĩnh quan sát xung quanh, H’Yêm ở giữa rừng, trời đã hửng sáng, tiếng côn trùng đang hát bài ca của mình. H’Yêm thở phào khi thấy không ai đuổi theo mình, H’Yêm tìm một cái hốc nhỏ, có lá phủ bên ngoài, rồi chìm vào giấc ngủ trong sự mệt mỏi và đầy lo lắng.

*

H’Yêm trở về làng không lâu thì con H’Nhĩu, H’Ly, H’Nen, thằng Ksor Wit, Ksor Niên... được các anh Bộ đội Biên phòng giải cứu khỏi tụ điểm buôn bán người. Được gặp lại người thân, về lại làng, ai cũng òa khóc. H’Yêm thấy mình may mắn khi được trở về, được ôm bà Hong trong tay, được gặp H’Xíu, được gặp Duân. Nước mắt hạnh phúc của H’Yêm chảy dài trên khuôn mặt. Thằng Duân nắm lấy tay con H’Yêm vỗ về.

Nắng chiều trải vàng khắp buôn làng, những tiếng cười ríu tít lại vang nơi nhà chung, những khung dệt vắng chủ nay lại thoăn thoắt thoi đưa theo từng nhịp, những chiếc nan tre được tạo thành những chiếc gùi tỉ mỉ với nhiều công đoạn để cho ra sản phẩm thủ công đẹp mắt. Tụi trẻ trở về, câu chuyện về Ma lai chẳng còn ai nhắc tới nữa. Già Kel nhìn đám trẻ đang ríu rít, trong những đôi mắt trong veo ấy, những đứa trẻ cả tin cho những ước mơ của mình, chúng đã trải qua những ngày đen tối nhất cuộc đời, may Yàng còn thương cho chúng trở về làng nguyên vẹn. Sợi khói thuốc nhẹ nhàng bay lên như đang nhảy múa cùng nắng, những nghề thủ công trong làng như đan lát, dệt cũng đã được hướng đến hình thức hợp tác xã để phát triển làng nghề bền vững hơn. Duân cùng già Kel, bà Hong cùng các nghệ nhân trong làng cũng đang miệt mài vừa chế tác sản phẩm, vừa truyền dạy nghề đan lát, nghề dệt truyền thống cho tụi trẻ, mong gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc mình, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân làng. Như thế những đứa trẻ sẽ không phải đi tìm kiếm tương lai ở đâu xa xôi nữa.

leftcenterrightdel
Tác giả Thụy Lê. 
Lấy câu chuyện từ buôn làng Tây Nguyên, truyện ngắn đã gửi đi thông điệp rằng con người cần tỉnh táo, không nên để nỗi sợ hãi và sự mê tín che mờ nhận thức và cái đáng sợ đôi khi không chỉ là thói mê tín, mà còn bởi lòng tham vẫn trổ mầm, bén rễ trong đời sống. Tác giả cũng cho thấy, tình yêu quê hương, yêu con người, yêu dân tộc đã giúp người trong làng tìm được cách giải quyết vấn đề. Những giá trị truyền thống không chỉ là sợi dây kết nối thế hệ, giữa quá khứ với hiện tại mà còn mở ra tương lai cho thế hệ trẻ, nếu biết gìn giữ và trân trọng. (Nhà văn NGUYỄN VĂN HỌC)

Truyện ngắn của THỤY LÊ