Người dân quê hai bờ bao năm vất vả đò giang, từ khi có cây cầu, việc đi lại thuận tiện, doanh nghiệp về mở xưởng sản xuất ở đây, thanh niên xin vào làm công nhân có việc làm ổn định, đời sống khấm khá. Nhưng cũng nhiều gia đình rạn nứt do vợ chồng mải làm tăng ca, ít có thời gian quan tâm, nhiều tệ nạn mới hình thành ở các khu nhà trọ. Thất tình nhảy cầu, vỡ nợ nhảy cầu, rồi cả những chuyện vớ vẩn cũng nhảy cầu... Thật may, vẫn có một con thuyền neo ở đó và chàng trai tốt bụng với một tổ ấm tưởng như trong câu chuyện cổ tích mà tối tối, người vợ vẫn đọc cho các con mình nghe.
***
Năm ấy mưa nhiều, nước sông đầy ăm ắp chứ không cạn như thế này. Huyền mới ra trường còn hăng hái xách máy ảnh, máy ghi âm đi phỏng vấn viết bài về tấm gương một người đàn ông dũng cảm đã lái thuyền ra chỗ xoáy nước dưới chân cầu để cứu những ai muốn quyên sinh. Anh bơi giỏi và chưa bao giờ do dự dẫu đó là đêm khuya hay tiềm ẩn xoáy nước xiết cướp đi sinh mạng của chính mình... Cô bước lên chiếc thuyền có mái che của Huân để xin được phỏng vấn anh. Huân ngơ ngác nhìn cô phóng viên gầy guộc rồi hỏi một câu mà đến tận bây giờ Huyền vẫn còn thấy ấm ức:
- Cô là cái cô nhảy cầu hôm nào nhỉ? Lần sau đừng có dại dột thế!
- Nhảy gì? Ơ cái anh này không thấy tôi là phóng...
- Phóng gì mà phóng. Các cô yêu đương lắm vào rồi phóng... xuống sông, làm con sông bị mang tiếng ác...
Đáng ra, Huyền phải giận tím mặt nhưng mấy lời ấy lại gợi cho cô một ý tưởng. Đúng rồi, không để dòng sông mang tiếng ác. Nhiều người lợi dụng sự thiếu hiểu biết khoa học của người dân mà tung tin đồn, nào là: “Đổ trụ cầu phạm vào mạch”, rồi thì “kinh động thần sông”, thậm chí còn ác khẩu “đã bị kéo xuống, cứu làm sao được...”. Huân chẳng nói gì nhưng anh đã phủ định tất cả lời đồn đoán ấy bằng sự “hồi sinh” những số phận với cánh tay vạm vỡ, khuôn mặt lạnh như băng nhưng luôn có một trái tim ấm áp của mình. Huyền đã viết được ba bài ấn tượng về anh và cô được giải báo chí năm đó. Huyền dần trở thành cây bút có nhiều phóng sự hay được độc giả quan tâm.
Nhưng từ đó đến giờ, trong cô vẫn cảm thấy Huân có gì xa cách mà cô chưa thể hiểu. Cô từng thấy Huân ở bờ sông sau một trận hỗn chiến với máu me loang lổ trên áo. Hóa ra, có hai người đi câu giành nhau chỗ nước lặng mà dẫn đến xô xát. Chẳng biết ai sai ai đúng, cứ thấy người bị thương là Huân bế lên bờ, đưa vào viện. Xong xuôi, anh lại nhảy tùm xuống dòng nước, thản nhiên như chưa từng có chuyện gì và cũng không mở lòng ra với ai ngoài dòng sông vẫn lặng lẽ đầy vơi theo năm tháng.
Họ đâu biết rằng, chỗ mom đất nước quẩn có những bụi cây ấy từng là nơi bám víu của một đứa trẻ may mắn sống sót sau vụ đắm thuyền. Cậu bé ấy đã lớn lên trong sự đùm bọc của những người dân bên con ngòi nghèo khó. Lớn lên, lập gia đình với một cô gái cũng phận mồ côi. Ngày vợ mang thai, theo tiếng gọi của Tổ quốc, người thanh niên ấy ra trận và đi mãi không về. Người đó là cha của Huân. Cũng vì lẽ đó mà sau bao năm phiêu dạt, anh lại tìm về bến sông này, dẫu ký ức mờ nhạt qua lời kể của mẹ và chưa một lần biết khuôn mặt người cha.
Một lần, Huân đang ngồi gỡ lưới thì có người đàn ông ăn mặc bảnh bao, đầu vuốt keo, tóc dựng bóng mượt đi xuống tận mép nước hỏi: “Anh có việc cho chú đây, trước chú em học đến lớp mấy rồi nhỉ?”. Huân ngước lên, nhìn thẳng vào mắt gã và đáp: “Lớn lên được học hết bốn mùa nước...”. Lão ta có vẻ tưng hửng, không nói không rằng bỏ đi. Lão ta đi rồi, Huân trườn vào khoang thuyền lấy một tập giấy tờ đã cũ từ đống vỏ bao bì với những hình vẽ và con số. Anh xem rồi đút nó vào túi cất đi, sau đó chèo thuyền đến ngòi Tằm thì cột thuyền lại, lên bờ cứ thế đi dọc con ngòi về hướng ngọn núi Tằm đang ẩn mình trong sương...
Lão ấy tên là Phẩm, con bà Tâm, anh họ của Huyền, hình như đang định chiếm con ngòi nước trong đổ ra sông để dựng thành một cái tụ điểm ăn chơi. Huân không muốn dính dáng đến hắn, không muốn tiếp tay cho kẻ làm vẩn đục nguồn nước nhưng thỉnh thoảng, anh vẫn ghé thuyền vào mang cho bà Tâm khi thì túm tôm bọc lá sen, lúc con cá măng nhỏ. Có hôm không có tôm, cá thì anh hái nắm lá ớt dại mọc ngay mép nước để bà nấu bát canh suông.
Một lần, bà Tâm bảo: “U nấu cơm, anh ở lại ăn với u cho vui, để u gọi cả cái Huyền nhà báo sang...”. Huyền sang, vào bếp nấu nướng cùng bà Tâm. Huân chẳng tỏ thái độ gì, anh lòng vòng trong nhà, cầm cái hộp thực phẩm chức năng in toàn tiếng Anh lên ngắm nghía rồi quay sang bà Tâm bảo: “Cụ không được dùng thứ này đâu nhé, hàng hết "đát" rồi”. Nói rồi anh đọc bảng thành phần, thông tin sản phẩm, nhỏ thôi nhưng Huyền nghe xong thì hết sức sửng sốt: Một anh lái thuyền sao có thể phát âm tiếng Anh chuẩn thế?
Thật ra bà Tâm chẳng bao giờ động đến những thứ Phẩm mang về biếu. Bà tin ở sự tốt lành của rau, dưa, tôm, cá... nhưng mấy lời nói ấy khiến bà cụ ứa nước mắt. Từ hôm thằng Phẩm ngồi tù vì tội lừa đảo, bà như cái bóng lay lắt. Một thân già ngoài bảy mươi sống không có một tia hy vọng ở phía trước. Nhưng trời thương, con bé Huyền hay qua đỡ đần bà, cả cái cậu Huân cũng sang giúp những việc nặng nhọc.
Một buổi sáng, có ông cụ thương binh mặc bộ quân phục đã sờn, tay chống nạng đi quả quyết đến bờ sông rồi đứng lặng. Bà Tâm thấy lạ nên mời ông vào nhà uống nước. Đặt chiếc nạng xuống cạnh ghế, ông cụ đón từ tay bà chén nước chè tươi và bắt đầu nhẩn nha vừa kể vừa hỏi thăm.
Ngày trước, ông đã lên đường nhập ngũ từ bến sông này. Đất nước thống nhất, thấy bao người đã phục viên mà không thấy ông trở về, người vợ đã bồng con vào Nam quyết đi tìm chồng cho dù chỉ còn là nấm đất... Hai mẹ con cứ đi mãi, không biết lặn lội đến những tỉnh nào. Còn ông thì may mắn giữ được mạng sống nhưng bị thương nặng ở đầu nên phải điều trị lâu dài tới mấy năm sau mới trở về, nhưng không thấy vợ con đâu nữa, hỏi cũng không ai biết tin tức gì. Sau này, vài lần ông quay lại đây nhưng chẳng còn chút manh mối nào... Ông cứ đứng lặng nhìn bến sông, nhìn thành phố lên đèn rồi mới rời đi.
Ông cụ kể đến đây thì xúc động, giọng run run:
- Bà biết không, đến giờ, tôi vẫn nhớ đêm hôm ấy, cả nhà chỉ có cây đèn dầu bằng đồng soi tỏ mặt người vợ đang bụng mang dạ chửa. Vầng sáng đó là nguồn hạnh phúc của đời tôi.
Ông vừa dứt lời thì bà Tâm như sực nhớ ra, mở tủ lấy một bọc ni lông nhỏ và đưa cho ông:
- Cái nhà anh Huân thuyền chài nhặt được đèn này ở ngay ngòi Tằm, thấy nó đã lâu lắm rồi, ông xem có quen không?
Vừa nghe thấy hai chữ “ngòi Tằm”, ông cụ vội lập cập đứng dậy, bước đến sờ tay lên chiếc đèn đồng, đúng lúc ấy, một người thanh niên cởi trần, tay xách mớ cá xâu bằng lạt tre đi vào. Trên cổ anh hiện lên chiếc bớt giống y vết bớt trên cổ ông. Như có một luồng điện vô hình làm thức tỉnh tất cả những gì đã ngủ yên trong tâm trí, tay người thương binh run lên bần bật, chiếc nạng gỗ cũng lập cập trên nền gạch theo tiếng nấc của ông cụ.
Phải rất lâu sau ông mới có thể bình tĩnh lại để kể chuyện. Huân lắng nghe câu chuyện của người thương binh, ráp nối từng chi tiết cho đến khi không còn nghi ngờ gì nữa thì Huân ôm chầm lấy ông và cất tiếng: “Cha ơi!”.
- Ngày đó, mẹ đưa con vào Nam rồi lại ngược lên Tây Nguyên tìm cha. Mẹ đã mất được mười năm, tro cốt gửi lại một ngôi chùa trong ấy... Con học đại học xong thì quay về đây, như tìm về quê hương-nơi chôn nhau cắt rốn.
Miệng ông cụ lắp bắp mãi mới thốt lên:
- Ôi con ơi, sao con ở đây mà mãi ta mới tìm thấy con?
Thời gian sau, người ta lại xôn xao kéo đến cái ao cá nhân tạo ở ngòi Tằm mà Huân làm với những con cá bống cát. Nghe nói thật ra Huân từng học đại học nông nghiệp, khoa nông học, chăn nuôi. Bao lâu nay, anh lênh đênh thuyền chài để tìm tòi thử nghiệm phục hồi loài cá bống cát quý giá của vùng sông nước này. Không lâu sau, một ngôi nhà nhỏ được dựng lên bên ngòi Tằm do bà con trong xóm nhường đất cho Huân để cảm ơn anh đã phục hồi, hướng dẫn bà con nuôi giống cá quý. Đám cưới của Huân và Huyền cũng được tổ chức ấm áp trong niềm vui trọn vẹn cùng người thân, làng xóm, họ đã tìm thấy câu trả lời cho hạnh phúc cuộc đời mình.
***
Huyền cất tiếng gọi, Huân quay lại mỉm cười ra hiệu cho vợ bước lên thuyền chèo đi. Ai qua đây cũng thấy, hằng ngày, trên dòng nước xanh có một con thuyền khi mải miết lướt đi, khi lại thảnh thơi neo đậu như cách mà đôi vợ chồng trên con thuyền ấy đã yêu thương dòng sông và cuộc đời này...
|
Đó như là một câu chuyện cổ tích, cổ tích về tình người, tình yêu, về chiến tranh và sự chia ly. Câu chuyện xung quanh dòng sông và cây cầu dẫn dắt người đọc khám phá những điều tuyệt vời, đầy nhân văn ẩn trong sự bình dị đôi khi tới mức dễ bị người ta quên lãng. Trên dòng sông mê mải chảy có một con thuyền vẫn lặng lẽ buồn vui cùng con nước, không để dòng sông mang tiếng ác. Cũng như giữa dòng đời bộn bề đang hối hả trôi đi vẫn có những con người lặng lẽ ráp nối, hồi sinh cho đời những điều trân quý. (Nhà văn LÊ SƠN)
|
Truyện ngắn của VIỆT PHƯƠNG