Tôi nhìn mẹ cuống cuồng, miệng rên hừ hừ, nước mắt đọng nơi hõm má, vài sợi tóc bết thái dương vẽ lên khuôn mặt những đường cong khúc khuỷu, đôi sợi lấm tấm màu muối rang: “Nghe nói bộ đội đã được huy động ra chống lũ con ơi. Em con bằng da bằng thịt răng cản được lũ hở trời?”. Đôi vai gầy của mẹ thõng xuống, nỗi bất lực, sợ sệt hằn trong ánh mắt đỏ hoe thăm thẳm.

Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh những trạm xả hoạt động hết công suất, nước ùng ục đục ngầu, những tia nước bắn vồng lên trắng xóa, tiếng ầm ào vang vọng xé toạc núi rừng. Nhưng đập vỡ rồi, núi lở từng mảng, đất ối đỏ, cây cối, nhà cửa, heo, bò bị cuốn hết theo dòng nước xiết. Những thân cây to với búi rễ sâu còn bị bật gốc nhấn chìm, thì mấy đê bao không dễ mà đắp. Tôi hình dung những tốp bộ đội, dân quân, người dân khẩn trương đắp những bao đất gia cố đê bao. Từng nhóm người với đầy đủ tư trang bảo hộ gồng mình bám vào sợi dây thừng to chắc đưa người dân qua dòng nước xiết sang bên bờ an toàn. Nước vẫn cuồn cuộn chảy... Từng chiến sĩ cẩn thận qua bờ bên kia, rồi quay lại cùng một đứa bé, hay một cụ già, bám chặt vào nhau nhích dần chút một người nối người. Những khuôn mặt căng phồng áp lực, hai hàm răng nghiến chặt, mắt quắc nhìn dòng nước dữ lăm le nhấn chìm tất cả. Chưa có cuộc chiến nào là dễ dàng, với thiên tai lại càng không.

Che dù qua hàng xóm gọi cha về, người trước người sau không ai nói với ai câu nào, tôi nhìn cha, từng bước khấp khểnh, chậm chạp, miếng cao su lót dưới chân gỗ mòn vẹt tòe ra những vụn nước đục.

- Có mua thuốc không? - Cha hỏi trống không, tay phủi phủi bụi mưa trên tóc, đoạn ghé mông xuống chiếc ghế, một tay thò túi quần móc lấy hộp thuốc. Ông đưa lên môi, bật quẹt châm lửa, điếu thuốc nhăn nhúm xìu xuống, hơi cong, mùi hăng hăng. Cha bật ba lần mới đốt được điếu thuốc duy nhất còn lại ấy, tiện tay vò cái vỏ hộp. Mặt mẹ sưng lên: "Thuốc, thuốc, lúc mô cũng thuốc, bộ không có thuốc ông chết hả? Con ông đang ở chỗ chết kia kìa..." rồi bật khóc hu hu. Cha ngẩn người, "ơ cái bà ni, con đi bộ đội, hắn có chỉ huy, có anh em". Là cha nói cứng rứa, chứ tôi biết lòng cha cũng đang thắt lại. Thời sự cha cập nhật liên tục, tình hình mưa lũ phức tạp, căng thẳng. Lũ từ thượng nguồn đổ về, nước từ các sông dâng cao, nước từ trời cũng mải miết ập xuống, xoay xở làm răng, chống đỡ kiểu chi.

Biết bao nhiêu sức cho đủ. Mẹ càm ràm, học không lo học. Cha ngớ ra, định nói chi đó lại thôi. Trong tôi ngổn ngang cảm xúc, nhớ khuôn mặt em Nghĩa với vầng trán rộng, hàng chân mày cao cương nghị giống cha. Bận đó, Nghĩa nhìn cha, nhìn mẹ, thưa muốn tiếp bước chân cha theo nghiệp nhà binh. Cha bật nở nụ cười hiền. Mẹ nhìn thằng bé, ria mép lún phún, đôi mắt ấm rực và nụ cười lúc mô cũng thường trực trên môi. Mẹ nắn nắn cánh tay Nghĩa: “Nắng gió chịu răng thấu con, học kiếm cái chữ, cái nghề rồi ưng làm chi thì làm”. “Trước sau gì con cũng đi nghĩa vụ mà mẹ”, Nghĩa nói. Mẹ cau mặt, hai hàng chân mày chạm vào nhau, từng đường rãnh trên vầng trán tựa sóng biển lớp chồng lớp, bất chợt quay sang cha hỏi: “Ông, có suất miễn cho con thương binh không?”. Cha nhìn qua Nghĩa, bắt gặp đôi mắt nửa như thỉnh cầu nhưng đầy cương quyết, ông nói nhanh, thôi, cứ để cho con nó đi. Bộ đội thời bình sướng như vua!

Mẹ lo lắng, tiếng thở dài hòa vào đêm vắng nghe não nề. Sáng ra, mắt mẹ sưng húp, nhưng không còn can ngăn chuyện Nghĩa nhập ngũ nữa. Cha không nói chi, lặng qua hàng xóm uống trà. Tôi nhìn theo dáng cha, cái lưng cõng nắng cõng mưa chở che mẹ con qua bao mùa cơ cực, bom đạn chiến tranh không hạ được ông thì những thứ khác chỉ như muỗi chích chân gỗ.

Chơi chán, cha về, gác cái chân gỗ qua bên, đưa tay xoa xoa khúc cụt như chiếc túi da thủng đáy cột vụng, đoạn vần thuốc ra hút. Tôi hay hỏi cha về khúc chân còn gửi lại chiến trường, về di nguyện sau này... Ông cười hiền, rứa là may mắn rồi, đồng đội cha còn bỏ lại cả tính mạng chưa tìm được đây, ma cụt chân cũng có răng mô. Mỗi lần nhắc đến những người anh em và câu chuyện ngày hôm qua, mắt cha lại mênh mang. 

leftcenterrightdel
Minh họa: PHÙNG MINH 

Mưa vẫn ầm ầm thác, cây cối quanh vườn ngã rạp. Mẹ mang ủng lội bồm bộp ra sau hè lượm đu đủ rụng, quờ lưỡi hái xuống dưới nước đục ngầu theo phán đoán rồi đưa tay túm lấy mớ rau lốt ẻo ợt. Bữa cơm không có gì ngoài mắm cái mẹ tự tay muối từ đầu mùa, với đu đủ non xào mỡ và bát canh mì tôm lèo phèo nước. Cha ăn qua loa, mấy lần gắp trượt. Mắt cha dán lên trần nhà, tôi cố nhìn theo nhưng không thấy gì ngoài mớ rui mè đã cũ.

Cha cứ lục đục làm chi đó. Ông lôi mớ tre cật sau chái ra chẻ chẻ, đan đan. Một bên ống quần được vấn cao, khúc chân cụt kê trên tấm đòn lẫn mấy sợi tơ tre vót mịn ra chiều thong thả. Đầu ông hơi khom, mặt se lại, tia nhìn không đoán định. Lúc này mới thấy nét mặt cha cam chịu dị thường. Chiếc radio cũ lúc rả rích, lúc khọt khẹt cố phá tan bầu không khí ngột ngạt. Chân gỗ dựng bên hông như người bạn trung thành sẵn sàng chờ hiệu lệnh. Tôi nhìn chân gỗ, từng hỏi lòng liệu có cận kề được bên cha như nó mỗi lúc ông cần.

Gió quật cây cối tơi bời. Mất điện. Cả nhà co ro quanh căn bếp nhỏ, củi rón rén đưa vào, những gốc to ướt nhoẹt, nghi ngút khói. Mẹ không còn tâm trạng kể chuyện bão lũ như mọi bận. Đó là những câu chuyện ám ảnh tôi đến mãi tận sau này về một ngôi làng bị bão càn, lũ dâng, nơi nơi thành sông. Gió ngưng quần xé, mọi người kê ván lên tận nóc nhà ngồi chờ nước rút, không lương thực, không nước uống. Trên đầu, mái nhà thủng mưa rả rích, dưới chân nước ùng ục chảy. Những đứa bé sợ tắt cả khóc nằm thiêm thiếp, những cụ già sọm đi trong cái lạnh. Đứa nhỏ mới vài tháng tuổi khóc ngằn ngặt, mẹ cố nhét vú vào miệng nhưng lại nhè ra khóc váng. Mấy ngày ròng rã không ăn uống, sữa cũng khô như đôi môi nứt, người mẹ chỉ biết bất lực ôm con vỗ về. Khóc chán, đứa bé lịm đi mê man. Đói. Lạnh. Đôi tay tê dại, người như không trọng lượng, mẹ trẻ thiếp đi. Bỗng “chủm” một tiếng! Người mẹ thét lên kinh hãi, đứa nhỏ mất hút trong dòng nước xoáy đen ngòm cuồn cuộn...

Mẹ gói một túi đầy mì tôm, dầu thoa, thuốc các thứ vào bao ni lông và cái áo mưa cũ. "Bà định đi đâu mưa gió ri", cha hỏi. "Tui đi thăm con", mẹ nói, giọng hơi dỗi. "Chờ tui tính, quân đội đâu phải ưng tới là tới", cha nói như nạt.

Nghe tôi nói đi hỗ trợ chống lũ, mẹ lụi cụi gói thêm mớ đồ ăn sẵn, không quên dặn dò các thứ, nhớ cẩn thận giùm. Ngại hành lý cồng kềnh, tôi chỉ cầm một ít vừa đủ dùng, mẹ chậc lưỡi, "chịu khó chút con, cố mang hết lên trên ấy chia cho mọi người ăn cùng, một miếng khi đói...". Mẹ bỏ dở câu nói. Cha đặt vào tay tôi bộ quần áo mưa, ông vỗ vỗ vai tôi như ngày em Nghĩa nhập ngũ. Tự nhiên trong tôi một niềm tự hào trào dâng. Ngay lúc này, tôi hiểu thêm cảm giác của cha ngày ông xếp bút nghiên lên đường làm nhiệm vụ. “Tổ quốc, hai chữ đó thiêng liêng lắm con”, cha nói trong lần kể tôi nghe về những đồng đội trẻ của mình. Đường đất đỏ lầy lội dọc ngang, đoạn lởm chởm đá, những mảng núi lở toác đổ xòa, xe nghiêng lắc dữ dội. Xe trườn qua mấy con dốc ngặt, vài khúc cong nguy hiểm, quãng này cây cối ngả đổ đã được cắt quang.

Chiếc xe dừng. Tôi bàng hoàng nhìn dòng nước đục ngầu cuồn cuộn, phía trên kia, giọng người í ới, tiếng cuốc xẻng lanh canh hối hả. Nhưng biết ai là ai, tất cả như một. Không khác hình dung của tôi là mấy, từng nhóm người trong quân phục dã chiến bước dè chừng, tay bám chặt sợi cáp. Họ băng suối qua bờ bên kia đưa người dân đang bị cô lập về nơi an toàn. Tôi nhận ra Nghĩa đang cùng đồng đội băng dòng nước nhờ dáng lưng y hệt cha, em đi gần sau cùng, thận trọng, người căng lên, hai vai vồng.

"Em tớ kìa", tôi gần như reo lên. Chưa kịp mừng vui vì thấy được Nghĩa thì bất ngờ một bè gỗ lao tới. Mọi người hai bên bờ rú lên kinh hãi khi thấy một dáng người ngụp lặn, tay chới với cầu cứu. Không một phút lưỡng lự, Nghĩa tháo vội dây thừng buộc ngang người, cột nhanh vào dây cáp, em rướn người lao theo bè gỗ. Tôi hét lên bàng hoàng. Bóng Nghĩa ngụp lặn, lúc ẩn lúc hiện như đang trong trò tiêu khiển của thủy quái. Tôi điếng lặng, tưởng như chỉ cần nén thêm chút nữa thôi lồng ngực sẽ vỡ tung.

Nước vẫn ầm ầm trút. Đội cứu hộ lao ra, mọi người vẫn tiếp tục nhiệm vụ. Tiếng la hét kêu gào inh ỏi. Tôi gần như ngã quỵ, tay bấu chặt một nhánh cây. Tôi chắp tay cầu nguyện, những tháng ngày ngụp lặn trên con sông quê đã rèn cho em một cơ thể dẻo dai, biết đâu may mắn bơi được vào bờ. Biết đâu, em được đồng đội cứu. Mà biết đâu không phải em, tôi cho mình cái quyền nghĩ ích kỷ đó. Tôi chưa đủ tỉnh táo để tự hào nghĩ đó là em. Tôi gượng dậy chạy dọc triền đá nhấp nhô, vấp ngã túi bụi, chân tóe máu. Nước vẫn quặn xiết từng dòng. Tôi soi từng lùm rác, nhìn từng bè cây, khuỵu xuống, lặng nhìn dòng nước đang gầm gào.

Sống rồi! Vào bờ rồi! Cho đến khi nghe thấy tiếng ai đó hét lên, tiếng vỗ tay reo hò mừng vui, tôi mới như lấy lại được nhịp thở, vành mắt mênh mông tựa bờ sông không còn thấy đâu là bờ.

leftcenterrightdel
Tác giả Hồ Loan. 

“Tâm bão” như một lát cắt đời sống nhưng đủ phác họa những gian nan trong cuộc sống của người dân miền Trung. Hồ Loan biết cách đẩy cốt truyện lên cao trào với đỉnh điểm là nút thắt của nỗi ám ảnh trong quá khứ về cảnh bão càn, lũ dâng và số phận mong manh của con người. Sẽ không có sự may mắn nào tự đến mà chỉ có sự nỗ lực, dũng cảm và cả hy sinh, trong đó có những gia đình như của Nghĩa-những người lính tiếp nối thế hệ, sẵn sàng vì sự bình yên và tương lai tốt đẹp của tất cả mọi người. (Nhà văn BÙI VIỆT PHƯƠNG)

Truyện ngắn của HỒ LOAN