QĐND - Đó là di sản thơ chống Mỹ, cứu nước bao gồm toàn bộ những sáng tác của cả một thế hệ cầm bút trong cuộc kháng chiến thần thánh ấy; trong đó có các nhà thơ áo lính và đông đảo các nhà thơ đang công tác trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề. Và nội dung của dòng thơ ấy cũng vì vậy mà chứa đựng toàn bộ cuộc sống con người và vận động xã hội trong hơn 20 năm (1954-1975) dân tộc ta lao động và chiến đấu để thực hiện khát vọng độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất đất nước.

Chính vì bắt nguồn từ nền tảng văn hóa truyền thống của dân tộc và chứa đựng những giá trị thời đại cao cả, mang tính nhân loại sâu sắc như vậy, nên dòng thơ chống Mỹ, cứu nước là một di sản văn hóa có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, đánh dấu một giai đoạn rực rỡ trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại. Điều đó đã được khẳng định trong thực tiễn cũng như trên nhiều diễn đàn văn học trong và ngoài nước trong nhiều năm qua.

Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa quan hệ hơn 20 năm; nhiều vấn đề bất đồng chính kiến, nhiều tồn tại của quá khứ đang được “gác lại” và vượt qua để hướng tới tương lai. Vậy mà đó đây, đôi khi vì quan điểm học thuật, vì phiến diện chủ quan, hoặc vì những lý do ngoài văn chương mà vẫn còn những ý kiến phủ nhận những giá trị khách quan của một dòng thơ đã được minh định. Tựu trung, họ cho rằng thơ Việt Nam thời chống Mỹ, cứu nước là nền “thơ tuyên giáo”, là “diễn ca nghị quyết”; các nhà thơ chống Mỹ đều “rặt” một giọng lên gân, cường điệu, thiên về “hướng ngoại” và thủ tiêu cái tôi trữ tình. Gần đây, có “học giả” còn tỏ ra “thông cảm” cho sự hạn chế về học vấn, ngoại ngữ, lý luận… của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ, với ngụ ý chê thơ của thế hệ này là nôm na thấp kém và phục vụ cho một “nhóm lợi ích”-thuật ngữ có nội hàm tiêu cực xuất hiện trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay.

Nhà thơ Giang Nam-một tác giả tiêu biểu của thơ chống Mỹ, cứu nước-phát biểu tại Hội thảo thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tổ chức tại Hà Nội tháng 12-2014. Ảnh: Thạch Sơn

Có thật thơ chống Mỹ, cứu nước là dòng thơ như thế?

1. Để trả lời câu hỏi trên đây, tốt nhất xin hãy hỏi những độc giả thuộc mọi thế hệ của những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rằng tại sao ngày ấy họ yêu thơ, thuộc thơ đương thời đến thế? Tại sao ngày ấy công chúng lúc nào cũng hào hứng đón đợi tiếng ngâm thơ trên đài (ra-đi-ô), trên sân khấu, trong các cuộc liên hoan văn nghệ quần chúng, thậm chí trên loa công cộng? Tại sao ngày ấy trong sổ tay của bộ đội, dân công, thanh niên xung phong, học sinh, sinh viên… có rất nhiều bài thơ của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ? Lại nữa: Tại sao đến nay, nhiều bài thơ thời ấy được phổ nhạc vẫn là những bài ca đi cùng năm tháng, được nhiều người yêu thích, hát trong các cuộc sinh hoạt văn nghệ nghiệp dư, trong phòng karaoke và cả trên những sân khấu ca nhạc sang trọng?

Và câu trả lời chắc chắn sẽ là: Vì thơ ấy hay, nhiều bài rất hay! Dòng thơ ấy đã đáp ứng nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ của các tầng lớp nhân dân trong giai đoạn đó, giúp họ học tập, lao động và chiến đấu hăng hái hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn… Hơn thế nữa, dòng thơ ấy có chiều sâu cảm xúc và chiều cao trí tuệ, có nội dung và nghệ thuật tốt, có tính nhân văn-nhân bản sâu sắc. Vì thế nó không chỉ được thế hệ đương thời yêu thích mà nó còn có đời sống văn học dài lâu, trường tồn cùng lịch sử dân tộc.

Đặc điểm nổi bật nhất của thơ thời chống Mỹ là tinh thần dấn thân của nhà thơ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Là thế hệ các nhà thơ khi sinh ra đã bắt gặp ánh sáng cách mạng và lớn lên trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nên lý tưởng thẩm mỹ của họ trùng hợp với lý tưởng của thời đại và khát vọng độc lập-tự do của dân tộc. Bởi vậy, họ tự xác định phải phản ánh trung thực và sinh động sự nghiệp cách mạng mà mình đang ký thác toàn bộ cuộc đời trong đó. Tâm thế nhập cuộc và dấn thân hết sức tự giác ấy đã giúp họ hòa quyện được cái “Tôi” trữ tình và cái “Ta” hào sảng; đã “thu xếp” hết sức ổn thỏa mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cá nhân và cộng đồng. Chính vì vậy, thơ chống Mỹ đã có bước phát triển về chất khá rõ nét so với thơ chống Pháp trước đó, đặc biệt là giàu chất suy tư triết luận hơn. Chẳng hạn: Âm hưởng của “tình quân-dân cá-nước” trong nhiều bài thơ thời chống Pháp, đã được nâng lên cấp độ cao hơn bởi cảm xúc triết lý và ý thức giai cấp trong thơ chống Mỹ, ví dụ như trong bài thơ Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy: Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no/ Riêng cái ấm nồng nàn như lửa/ Cái mộc mạc lên hương của lúa/ Đâu dễ chia cho tất cả mọi người. Hoặc Nơi hầm tối là nơi sáng nhất (Dương Hương Ly) là một phát hiện vừa mang tính triết lý, vừa thể hiện được giá trị, tầm vóc cuộc chiến đấu của dân tộc ta là “lương tri của nhân loại”. Hoặc nữa, như câu thơ Thế đấy giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ của Phạm Tiến Duật là một khái quát tinh vi, một thông điệp nhân sinh vô cùng sâu sắc…

2.  Một đặc điểm nữa của dòng thơ chống Mỹ là nó kế tục liền mạch, rồi nâng cao và phát triển thơ kháng chiến chống Pháp với xu thế vận động không ngừng. Thực ra trước đó, thơ kháng chiến chống Pháp đã kế tục Thơ Mới với những cách tân khá ấn tượng, như Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ máu Tình sông núi của Trần Mai Ninh, Đất nước Đêm mít-tinh của Nguyễn Đình Thi, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đèo Cả của Hữu Loan v.v.. Nhưng đến thơ chống Mỹ thì ý thức cách tân rõ rệt và quyết liệt hơn, trở thành một xu hướng của thơ ca và có những kết quả thật độc đáo, góp phần thúc đẩy tiến trình thơ Việt lên một giai đoạn mới với những thành tựu mới đặc sắc. Rõ ràng, mặc dù thế hệ các nhà thơ chống Mỹ nhiều người chưa được đào tạo bài bản, nhiều người không biết ngoại ngữ và các trường phái lý luận sáng tác… nhưng họ là một thế hệ tài hoa, giàu nội tâm và có ý thức nghề nghiệp. Nhà thơ Bằng Việt, một tác giả “Tây học” hẳn hoi, từng hết sức thán phục khi bắt gặp nhiều câu thơ của Lưu Quang Vũ viết từ những năm 1966-1967 lại “giống” như nhiều đoạn ý tưởng trong tiểu thuyết “Một chút mặt trời trong nước lạnh” của nhà văn danh tiếng P.Xa-găng xuất bản ở Pháp năm 1969. Hoặc có những suy tưởng rất lạ trong bài thơ “Một cộng một bằng không” của Nguyễn Đức Mậu lại trùng hợp và tương kiến thú vị với bài thơ “Thử nghĩ về một phép toán khác” của nhà thơ cùng thời N.Xta-ne-xcu ở tận… Ru-ma-ni. Mà theo Bằng Việt thì chắc chắn vào thời điểm ấy, anh lính tình nguyện Nguyễn Đức Mậu mới tốt nghiệp lớp 10 và đang chiến đấu ở chiến trường Lào thì chắc chắn không biết N.Xta-ne-xcu là ai và lại càng không thể đọc được bài thơ “Thử nghĩ về một phép toán khác”, khi mà cho đến nay bài thơ ấy vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt. Kể ra đây vài trường hợp như thế để thấy rằng thơ chống Mỹ là dòng thơ “có học” hẳn hoi chứ phải đâu là thứ thơ quê mùa, minh họa đơn giản?

Chính vì có được những phẩm chất như trên mà thế hệ các nhà thơ xuất hiện và trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhiều người đã sớm có những giọng điệu rất riêng. Tiêu biểu là Phạm Tiến Duật, người khai mở một trường phái thơ nhập thế, nhập cuộc ngồn ngộn, bộn bề hiện thực; người được gọi là “con đại bàng của thi ca Trường Sơn”, được tôn vinh là “người lĩnh xướng của dàn thơ chống Mỹ”. Bên cạnh Phạm Tiến Duật còn có một giọng thơ đặc biệt nữa, vừa giàu cảm xúc, vừa đậm triết lý, tinh tế mà hàm súc, đào sâu vào vỉa mạch trầm tích văn hóa. Đó là Hữu Thỉnh, tác giả của rất nhiều những câu thơ “để đời” như: Đất nước theo em ra ngõ một mình/ Cau vườn rụng một tàu đã cũ… Rồi: Một mình chị một mâm cơm, ngồi bên nào cũng lệch. Và: Một đời người mà chiến chinh nhiều quá/ Em níu giường níu chiếu đợi anh v.v..

Xung quanh hai gương mặt tiêu biểu trên đây, là lấp lánh rất nhiều gương mặt làm nên một dàn đồng ca của những phong cách đa dạng mà thống nhất: Nguyễn Duy dân dã thôn quê mà trí tuệ sâu sắc; Thanh Thảo cách điệu rất trữ tình mà khảng khái; Thu Bồn vạm vỡ và đam mê; Nguyễn Khoa Điềm hào sảng một cách ngọt ngào; Trần Đăng Khoa thần đồng mà già dặn; Xuân Quỳnh thiết tha nữ tính; Lâm Thị Mỹ Dạ trực cảm tinh tế; Dương Hương Ly sôi nổi bạo liệt; Bằng Việt trang trọng học thuật; Hoàng Nhuận Cầm hồn nhiên non tơ; Lưu Quang Vũ tài hoa bẩm sinh… và còn nhiều nữa: Bế Kiến Quốc, Ngô Thế Oanh, Thi Hoàng, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Vũ Quần Phương, Phạm Ngọc Cảnh, Trần Nhuận Minh v.v.. Chính vì mỗi người trong dàn đồng ca ấy đã định hình được những phong cách riêng, nên sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, họ vẫn tiếp tục hành trình thơ bền bỉ, có nhiều thành tựu mới. Đặc biệt, đa số họ đã tiếp nhận xu thế đổi mới thơ không ngỡ ngàng lúng túng. Những thành công trong thời kỳ sau này của Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Trần Nhuận Minh, Thi Hoàng v.v.. đã chứng tỏ rằng, họ không chỉ là những người đi trước “truyền lửa”, mà còn đồng hành với tư cách chủ thể và tâm thế tự tại trong nền thơ đổi mới hôm nay. Và ngày nay, nếu có ai đó do vô tâm hay hữu ý mà “quên” đi những giá trị của thơ chống Mỹ, thì cũng không thể phủ nhận vai trò hết sức quan trọng của một bộ phận đáng kể thuộc thế hệ các nhà thơ ấy trong nền thơ Việt Nam đương đại.

3. Cuối cùng, cũng xin nói thêm rằng: Thơ chống Mỹ cũng có không ít những câu thơ “đắng lòng” được viết trong những năm “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, nhưng phải đợi đến khi kết thúc chiến tranh, thậm chí đến thời kỳ đổi mới, mới được công bố. Đó là một sự “nén lại” cần thiết, một sự hy sinh cao cả của các nhà thơ chống Mỹ-cũng là sự hy sinh của nền thơ chống Mỹ-vì lợi ích đại cục là cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Vâng, nhà thơ thời chống Mỹ cũng có cái tôi trữ tình đôi khi đau buồn u uẩn riêng tư, nhưng giữa lúc đất nước “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trong khi bom đạn ngút trời, đau thương tang tóc bao trùm lên quê hương, đất nước thì sao nỡ phơi ra những đau buồn thế sự của thơ ca? Giờ đây khi chiến tranh đã lùi xa, đất nước đã đổi mới, xin hãy đọc lại vài câu thơ như thế của một vài tác giả thời ấy, để hiểu rõ hơn và thêm kính phục họ. Đó là Xuân Quỳnh: Ngoài xa kia sấm động khắp chân trời/ Cơn mưa đến nước xanh mặt biển/ Cơn mưa đến nào cần chi biết/ Cơn mưa kia không phải của mình… Là Phạm Tiến Duật: Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay… Và Lưu Quang Vũ: Vườn cũ cây tàn chim chết cả/ Người chơi đàn nguyệt có còn không/ …  Thương nhà, thương nước, thương cho bạn/ Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào… Rồi Hữu Thỉnh: Tôi mất hai người anh/ Cả hai còn rất trẻ/ Tôi ngồi buồn như lá sen rách/ Cuốc kêu gì mà khắc khoải trưa nay/ Tôi ngồi buồn tôi đếm ngón tay/ Có mười ngón tay đếm đi đếm lại/ Đếm đi đếm lại trời ngả sang chiều/ Chúng ta bị cái chết gạt về một phía/ Bị hư danh gạt về một phía/ Phải vượt mấy trùng khơi mới bắt gặp nụ cười… Vân vân... và vân vân… Ngay cả Phạm Tiến Duật, tác giả của câu thơ Đường ra trận mùa này đẹp lắm, từ những năm tháng ấy đã dự cảm thấm thía: Cho những cuộc hành quân nào còn trong bóng tối/ Sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay… Rồi Tố Hữu, ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà quản lý văn nghệ cách mạng, giữa những năm tháng máu lửa ấy cũng đã thốt lên: Việt Nam ơi, máu và hoa ấy/ Có đủ mai sau thắm những ngày? Đó cũng là một dự cảm lớn, một băn khoăn lo lắng xuất phát từ một trái tim nhân bản, một đầu óc mẫn tiệp, soi vào thế sự hôm nay lại càng thấm thía!

Tuy nhiên, thơ chống Mỹ cũng có những mặt còn hạn chế về nhận thức và thi pháp. Nhưng mỗi thời đại bao giờ cũng tồn tại trong những điều kiện lịch sử riêng của nó, với những tiến bộ và hạn chế của nó. Bởi vậy không thể lấy những tiêu chuẩn, điều kiện, hoàn cảnh… của hôm nay để soi chiếu thẩm định thơ của ngày hôm qua. Nhất là khi sự “soi chiếu, thẩm định” ấy lại xuất phát từ những mặc cảm, định kiến, bất đồng phi văn chương…

Nhà thơ MAI NAM THẮNG