Vẻ đẹp từ những mảnh vỡ

Tôi đến nhà nghệ nhân trẻ Huỳnh Kim Nhật Minh vào một buổi trưa nắng gắt. Trong xưởng nhỏ, tiếng kềm bấm sành vang lên từng nhịp “tách... tách...” đều đặn như thể bỏ quên thời gian. Ngồi trước bức tranh “Nhất long ẩn vân” còn dang dở, hai bàn tay lấm bụi men xoay nghiêng một mảnh sành dưới ánh sáng, anh chăm chú cân nhắc trước khi đặt nó vào phần vảy rồng đang uốn lượn.

Anh nói, vẻ đẹp của nghệ thuật khảm sành sứ bắt đầu từ những mảnh vỡ như thế. Những món gốm nguyên vẹn bị đập vỡ, đó cũng là lúc chúng bắt đầu một đời sống khác trong vẻ đẹp của hình hài long, phụng, hoa lá, chim muông... và hiện diện trong cung điện, đền đài, lăng tẩm. Huỳnh Kim Nhật Minh bén duyên với nghề khảm sành sứ từ năm 13 tuổi, đúng vào thời điểm Huế bắt đầu công cuộc trùng tu di tích. Ngày đầu tiên theo thầy bước vào Đại Nội, anh vẫn nhớ như in cảm giác ngỡ ngàng khi đứng trước những bức khảm sành sứ lộng lẫy ở chốn cung đình. Cậu bé năm ấy không ngờ phía sau vẻ đẹp lộng lẫy của những đền đài, lăng tẩm triều Nguyễn lại bắt đầu từ những mảnh gốm, mảnh sành vỡ.

leftcenterrightdel
Nghệ nhân Huỳnh Kim Nhật Minh có hơn 20 năm theo nghề khảm sành sứ. 

Càng theo nghề, anh càng hiểu, từ một nghề thủ công xuất phát trong dân gian, khảm sành sứ đã bước vào cung đình Huế và trở thành một phần của mỹ thuật kinh kỳ suốt hàng trăm năm nhờ đôi bàn tay và khối óc của người xưa. Qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, những mảnh gốm sứ xù xì, góc cạnh lại được ghép nối thành hình rồng phượng, hoa lá, mây nước sống động, góp phần tạo nên vẻ uy nghi và thâm trầm cho các công trình cổ kính.

“Hồi mới học nghề, tôi chỉ được giao những việc lặt vặt như dọn dẹp, trộn vữa, bẻ sành. Mỗi lần nhìn các nghệ nhân với đôi tay điêu luyện tỉ mẩn ghép từng mảnh sành lên mái điện, bình phong hay đền đài ở Huế, tôi thầm ước một ngày mình cũng được đứng ở vị trí ấy, được tự tay gắn lại những dấu tích xưa cũ của cha ông”, nghệ nhân Nhật Minh nhớ lại.

Sau hơn 20 năm theo nghề, bước chân của Huỳnh Kim Nhật Minh đã đi qua nhiều công trình trùng tu ở đất cố đô như: Cung Trường Sanh, lầu Kiến Trung, cổng Hiển Nhơn trong Đại Nội, nghênh Lương Đình, chùa Từ Hiếu, đình Kim Long... Anh cho rằng, trùng tu di tích không phải là sửa lại một họa tiết hay làm đầy một khoảng tường đã khuyết, đó là quá trình đi tìm lại tinh thần của kiến trúc cung đình Huế, ở đó mỗi hình rồng, cánh phụng, áng mây hay cành hoa đều mang trong mình quan niệm thẩm mỹ và dấu ấn văn hóa của người xưa. Khó nhất là làm sao trùng tu mà vẫn giữ được vẻ cổ xưa của công trình.

leftcenterrightdel
Công đoạn bẻ sành sứ hoàn toàn thực hiện bằng tay. 

Luyện nghề, luyện tính cách

Ngồi thật lâu trong xưởng, tôi càng hiểu hơn vì sao khảm sành sứ là một nghề đòi hỏi sự nhẫn nại gần như khắc khổ. Nghệ nhân trẻ chia sẻ: “Nghề này rèn tính người dữ lắm. Có khi bẻ gần hoàn thiện một mảnh sứ, vậy mà chỉ sơ sẩy một chút là nó vỡ ngay ở đường cắt cuối cùng, lúc đó dễ nóng nảy. Nhưng rồi mình phải học cách kiềm chế cơn bực vào trong để bình tĩnh làm lại từ đầu. Thành ra luyện nghề cũng là luyện tính, luyện cả sự nhẫn nại”. Có lẽ vì thế mà khảm sành sứ không dành cho những người nóng nảy, thiếu kiên nhẫn. Người làm nghề không chỉ cần đôi tay khéo mà còn phải đủ điềm tĩnh để theo đuổi những chi tiết nhỏ bé đến cùng.

Chỉ vào chiếc kềm cũ nằm cạnh đống mảnh sành vừa cắt, anh Nhật Minh bảo đó gần như là “vật bất ly thân” của người làm nghề khảm sành sứ. Nghề này hầu như làm hoàn toàn bằng tay. Máy móc chỉ hỗ trợ cắt thô vật liệu ban đầu, còn tất cả đường nét mềm mại của hoa lá, muông thú đều phải được người thợ tự tay bẻ, “riếng” từng chút một bằng kềm.

leftcenterrightdel
Dùng bút xạ tách tỉa là công đoạn cuối cùng để các chi tiết trở nên sắc nét, sinh động hơn. 

Một mảnh gốm muốn trở thành cánh hoa hay áng mây phải trải qua rất nhiều lần chỉnh sửa. Người thợ vừa nhìn bằng mắt, vừa cảm bằng tay để nắn từng góc cạnh nhỏ cho thật mềm và có hồn. Chỉ cần lệch đi một chút, thần thái của cả họa tiết cũng đổi khác.

Thầy của anh Huỳnh Kim Nhật Minh là nghệ nhân Trương Văn Ấn, con trai nghệ nhân Cửu Lập, một trong những người từng tham gia xây dựng lăng Khải Định. Anh kể, những năm theo thầy học nghề, ngoài kỹ thuật nghề nghiệp, thầy còn dạy học trò cách ứng xử với từng công trình di sản, cùng sự tôn trọng, tâm huyết với nghề. Ở thầy, anh học được sự nhẫn nại gần như khắc khổ của người thợ thủ công, học cách cúi mình trước vẻ đẹp của di sản và gìn giữ lòng tự trọng nghề nghiệp.

Theo anh Nhật Minh, để hoàn thành một tác phẩm khảm sành sứ, các công đoạn đều có độ khó như nhau, nhưng phần dựng cốt là quan trọng nhất và quyết định “hồn” của tác phẩm. Nếu phần cốt không tốt, những lớp men khi khảm lên đẹp đến mấy cũng không cứu được tổng thể. Đặc biệt, với các công trình trùng tu di tích ở Huế, áp lực càng lớn hơn. Bởi nhiều hình ảnh xưa đã bị mờ, người thợ phải dựa vào hiểu biết mỹ thuật, lịch sử và cả trực giác nghề nghiệp để phục dựng lại.

Người thợ có thể dựng cốt bằng cách vẽ xuống sàn công trình, hoặc vẽ trên giấy rồi sử dụng chất liệu xi măng cốt thép, sau đó mới khảm. Họ phải luyện được đôi mắt để biết mảnh men nào hợp với ánh sáng nào, sắc độ nào có thể tạo nên chiều sâu cho cánh hoa, lớp mây hay ánh nhìn của linh vật. Người thợ cũng chính là người thổi hồn sức sống vào mảnh sành, mảnh sứ. Vì vậy mỗi tác phẩm khảm sành sứ luôn mang dấu ấn rất riêng của người làm ra nó. Cuối cùng là công đoạn tách mực. Người thợ dùng bút xạ tách tỉa, tô màu để các chi tiết trở nên sắc nét, góc cạnh hơn.

leftcenterrightdel

Nghệ nhân 9X hoàn thiện bức tranh tường "Nhất long ẩn vân" bằng nghệ thuật khảm sành sứ. 

Tìm sinh cơ mới

Không gian sống của nghề khảm sành sứ hôm nay không còn rộng như trước. Ngoài các công trình trùng tu di tích, chùa chiền, nhà thờ tự, thị trường cho nghề này ngày càng thu hẹp. Trong khi đó, mỗi công trình, mỗi tác phẩm lại đòi hỏi độ kỳ công rất cao. Những người yêu nghề như anh Nhật Minh luôn phải giằng co giữa nghệ thuật và thị trường, giữa lòng tự trọng nghề nghiệp và nỗi lo cơm áo.

“Giữ chất lượng đồng nghĩa với giá thành cao, sẽ khó sống. Nhưng hạ chất lượng để giảm giá thì lại đánh mất phẩm giá nghề nghiệp của mình”, anh Nhật Minh bộc bạch. Có những đơn hàng anh từ chối vì khách muốn làm rẻ hơn, có nghĩa là phải giảm chi tiết, giảm độ dày nét khảm, giảm sự tinh xảo, giảm thời gian chế tác... Do vậy, anh nghĩ rằng, nghề khảm sành muốn sống được, cần phải bước ra đời sống thường nhật. Thay vì thu hẹp trong các công trình cổ xưa, chúng cần hiện diện trong những không gian hiện đại mà vẫn giữ được tinh thần văn hóa Huế. Đó cũng là lý do gần đây anh tập trung vào sáng tạo dòng tranh khảm sành sứ treo tường.

Những bức tranh khảm sành sứ của anh đã có mặt trong nhiều không gian hiện đại như công ty, nhà hàng, quán cà phê, nhà riêng ở nhiều tỉnh, thành phố như: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Tây Ninh... Một lần ghé quán cà phê ở Buôn Ma Thuột, bất chợt anh nhìn thấy bức tranh khảm sành sứ của mình treo trên bức tường giữa không gian hiện đại đầy ánh đèn. Những vị khách trẻ ngồi bên dưới vừa trò chuyện, vừa đưa mắt ngắm những mảnh men cũ ánh lên dưới ánh sáng vàng dịu. Khoảnh khắc ấy khiến anh rất hạnh phúc. Anh nhận ra, khảm sành sứ không chỉ bó hẹp trong đền đài, lăng tẩm mà có thể bước vào đời sống hiện đại theo một cách khác để lan tỏa nét đẹp văn hóa Huế.

Tôi rời xưởng nhỏ của nghệ nhân Huỳnh Kim Nhật Minh khi nắng chiều xứ Huế đã chùng xuống bên hiên. Trong khoảng lặng của buổi chiều muộn, nghệ nhân trẻ vẫn ngồi chăm chú trước bức tranh khảm sành đang dang dở. Dưới bàn tay anh, những mảnh men nhuốm màu năm tháng lại dần hóa thành mây rồng, hoa lá, hóa thành một phần hồn cốt của đất kinh kỳ.

Bài và ảnh: LÊ HÀ