Lãnh binh Thăng, tên đầy đủ là Nguyễn Ngọc Thăng, sinh năm 1798 tại ấp Giồng Keo, làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Cha mẹ ông đều dân gốc Quảng Nam. Sinh trưởng trong một gia đình thuần nông nhưng từ nhỏ, ông đã chăm chỉ học chữ Nho, vừa hăng say luyện tập võ nghệ. Đến khi đủ tài lực, ông đứng ra chiêu mộ dân để khai khẩn đất đai, lập đồn điền vùng Bảo Hựu (Bến Tre ngày nay). Thời vua Thiệu Trị, ông gia nhập quân đội triều đình, ban đầu được thăng Cai cơ, đến năm 1848 được thăng chức Lãnh binh. Kể từ đó, cái tên Lãnh binh Thăng gắn liền với người anh hùng chống Pháp đất Nam Bộ.

leftcenterrightdel
Lãnh binh Thăng. Ảnh tư liệu 
Ngày 10-2-1859, đại bác Pháp bắn vào cửa biển Vũng Tàu. Ngay hôm sau, tàu chiến Pháp đã tiến vào sông Cần Giờ. Sáng 16-2, 7 tàu chiến Pháp dàn trận rồi ra sức bắn pháo cấp tập xông lên chiếm được pháo đài và tiến đến sát thành Gia Định. Sáng sớm 17-2, tướng De Genouilly cho đại bác trên tất cả các tàu chiến bắn yểm hộ rồi cho một cánh quân đổ bộ. Sau khi đánh thủng được cửa Đông, quân Pháp dùng thang cao leo vào thành Gia Định. Hai bên liền xông vào đánh xáp lá cà. Đến khoảng 10 giờ, Hộ đốc Võ Duy Ninh, đang giữ trọng trách trấn thủ thành, ra lệnh lui quân, bỏ lại hầu hết súng đạn, thóc gạo và hơn trăm chiến thuyền gỗ trên sông Thị Nghè.

Tuy hạ được thành Gia Định nhưng quân Pháp vẫn liên tục phải đối phó với những đạo quân “ứng nghĩa” hoạt động sôi nổi ở khắp nơi, đêm ngày phục kích, bao vây đối phương. Nhân dân cũng tự thiêu hủy nhà cửa, di tản hết, không hợp tác với Pháp.

Khi quân Pháp đánh vào thành Gia Định, Lãnh binh Thăng đem binh từ Thủ Thiêm đến cứu viện. Chưa tới nơi, đã nghe tin thành bị chiếm, Hộ đốc Võ Duy Ninh và án sát Lê Từ tuẫn tiết, Lãnh binh Thăng rút về đóng giữ ở vùng chùa Cây Mai (nay thuộc phường 16, quận 11, TP Hồ Chí Minh). Tại đây, ông cho củng cố đồn lũy, nhưng do vũ khí của Pháp quá mạnh nên chỉ sau một thời gian cầm cự, Lãnh binh Thăng cũng phải bỏ đồn. Quân Pháp biến chùa Cây Mai thành một đồn binh kiên cố. Lãnh binh Thăng chỉ huy 2.000 quân liên tục đánh vào đồn...

Trong những năm tháng chiến đấu ác liệt trước quân đội Pháp vượt trội về hỏa lực, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng luôn nêu cao tinh thần bất khuất, phối hợp với Đỗ Trịnh Thoại, Thủ khoa Huân, Thiên hộ Võ Duy Dương… liên tục tổ chức các cuộc công kích trong hai năm 1862-1863.

Ngày 5-6-1862, triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất nhượng 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho Pháp. Vua Tự Đức xuống chiếu dụ kêu gọi bãi binh. Không đồng tình, Trương Định vẫn ở lại Gò Công để tiếp tục kháng Pháp. Lãnh Binh Thăng cũng đã rút quân về Gò Công hội tụ. Ngày 19-8-1864, Huỳnh Công Tấn phản bội dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ đánh úp bản doanh. Trương Định bị trọng thương và rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò Công), để bảo toàn khí tiết. Lúc này ở chiến trường miền Đông Nam Bộ chỉ còn lại 3 trung tâm kháng Pháp: Thiên Hộ Dương chỉ huy chiến đấu ở vùng Đồng Tháp Mười, con trai Trương Định là Trương Quyền hoạt động ở vùng Tây Ninh đến Hóc Môn, Lãnh binh Thăng chiến đấu ở vùng hữu ngạn sông Soài Rạp cho đến cửa Tiểu. Ngày 27-6-1866, trong lúc đang chỉ huy nghĩa quân đánh nhau với quân Pháp ở hữu ngạn sông Soài Rạp, ông bị trúng đạn, tử thương. Lợi dụng đêm tối, các thuộc hạ trung thành đã dùng ghe đưa thi hài ông về Mỹ Lồng (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm) để an táng.

NGUYỄN VÂN LONG (Sưu tầm và biên soạn)