Năm 1962, khi tròn 18 tuổi, ba của bác sĩ Lê Kim Hà là Lê Bình trở vào chiến trường B2 làm Tỉnh đội trưởng Phước Thành, sau thời gian dài tập kết ở miền Bắc. Ông đưa Lê Kim Hà ra chiến khu. Năm 1963, Lê Kim Hà được học lớp y tá của Ban Quân y Miền, sau đó về phục vụ một đơn vị trinh sát đặc công. Năm 1965, Lê Kim Hà đi học y sĩ do Ban Dân y Miền tổ chức rồi về Viện Quân y K71. Đến cuối năm 1970, Lê Kim Hà chuyển sang Viện Quân y K72 và đi học khóa đào tạo bác sĩ chuyên tu cuối cùng của Trường Bác sĩ quân y Miền. Sau giải phóng miền Nam, Lê Kim Hà về Bệnh viện Quân y 175 công tác cho đến lúc nghỉ hưu.

leftcenterrightdel

Y sĩ Lê Kim Hà khi ở chiến trường. Ảnh do nhân vật cung cấp

Nay đã ngoài 80 nhưng bà Lê Kim Hà vẫn nhớ rõ từng chi tiết những ngày ở chiến trường gian khổ, ác liệt. Đại tá Lê Kim Hà kể, năm 1969, địch điên cuồng đánh phá ác liệt, dai dẳng nhiều khu vực thuộc tỉnh Tây Ninh. Lúc ấy Viện Quân y K71 đứng chân ở Trảng Tròn, trong một khu rừng già gần sát biên giới Campuchia phải hứng chịu tới 24 đợt máy bay B-52 ném bom rải thảm, chà đi xát lại mang tính chất hủy diệt.

Đêm đó, khi vừa dứt những tiếng nổ chói tai, lọng óc, bác sĩ Lữ Tấn Phát, Chủ nhiệm Khoa Ngoại 1 đã hô to: "Tất cả đảng viên, đoàn viên nhanh chóng rời khỏi hầm để cứu chữa thương binh”. Tôi vội mò mẫm trong căn hầm chữ A đặc quánh khói bom để tìm chiếc đèn pin. Sờ trên tấm sạp tre làm giường ngủ, tay tôi chạm vào một mảnh bom khá to, sắc như dao cạo còn nóng hổi. Ra khỏi cửa hầm, không khí đặc quánh mùi thuốc nổ, mùi cỏ cây bị cháy trụi. Lửa vẫn rừng rực trên những thân cây cổ thụ đang cháy dở. Khói bom vẫn ngùn ngụt bốc cao. Cảnh hoang tàn, đổ nát hiện ra trước mắt tôi. Mặt đất bị cày xới thành đống, thành ụ lổn nhổn.

Chúng tôi chia nhau đến từng gốc cây, khe suối, vượt qua những vạt cây lúp xúp vẫn còn âm ỉ cháy để thu lượm những mảnh thi thể của đồng đội, của thương binh, bệnh binh bị mảnh bom xé nát rơi vãi trên cành cây, dưới hố bom, ngách hầm chữ A trong bầu không khí sặc mùi tanh của máu.

Tôi vừa lần tìm những mảnh thi thể của đồng nghiệp, của thương binh, bệnh binh, vừa khóc vì căm phẫn kẻ thù hung bạo, vừa tiếc thương, cảm phục trước sự hy sinh đau đớn của đồng đội. Ngày hôm sau, bệnh viện phải di chuyên đến vị trí dự bị. Vì có 7 thương binh bị vết thương cột sống gây liệt tứ chi không thể vận chuyển ngay nên bệnh viện đã cử tôi cùng hai nam y tá ở lại chăm sóc, chờ khi chiến sự bớt căng thẳng sẽ quay lại đón.

Tôi và hai y tá vừa phải lo thay băng vết thương, tiêm thuốc, nấu ăn cho thương binh, vừa phải thay nhau canh gác trong khi những tiếng nổ của bom, của pháo địch vẫn rền vang lúc gần lúc xa, có lúc rơi cạnh chúng tôi. Không hiểu sức mạnh nào đã giúp tôi trụ vững được trong hoàn cảnh éo le như thế. Tôi không sợ cái chết cận kề, rình rập, mà sợ nhất là vào ban đêm khi nghe những tiếng kêu quàng quạc rợn người của lũ quạ đói tranh nhau xâu xé những mảnh thi thể còn sót, hoặc xác thú rừng quanh khu vực bệnh viện đứng chân. Gần 4 ngày sau, một đoàn dân công tìm đến chỗ chúng tôi và cáng 7 thương binh về Viện Quân y K71 C.

Giữa năm 1970, Mỹ-ngụy mở cuộc càn quét với quy mô chưa từng có vào 6 tỉnh của Campuchia, trong đó ác liệt và kéo dài ngày nhất là ở khu vực Mỏ Vẹt (còn gọi là Móc Câu hoặc mũi Kennedy), giáp tỉnh Tây Ninh. Đây là nơi Phòng Quân y Miền và hầu hết các bệnh viện lớn, trong đó có Viện Quân y K71 (có hơn 700 thương binh, bệnh binh) đứng chân rải rác trong những cánh rừng già còn sót lại sau nhiều tháng bị bom pháo địch tàn phá.

Trong 60 ngày đêm, Viện Quân y K71 vừa tập trung mọi nguồn lực, nhân lực để cứu chữa thương binh, bệnh binh vẫn liên tục chuyển về, vừa kiên quyết chiến đấu ngăn chặn nhiều mũi tấn công thọc sâu của lính Mỹ-ngụy, trong đó ác liệt nhất là ngày 17-6-1970. Hôm ấy, tôi chỉ mới nghe thấy tiếng ầm ì văng vẳng bên tai, thì bom đã rơi tới tấp trên nóc hầm. Những tiếng nổ chồng lên tiếng nổ khiến mặt đất bị rung chuyển dữ dội. Những ánh chớp xanh lè của bom B-52 khiến ai cũng bị hoa mắt, chóng mặt, hai tai đau nhức, nhiều người bị sặc máu mồm, máu mũi, máu tai... Sức ép của bom khiến ngực tôi đau thắt, chân tay như bị tê dại. Xen trong những tiếng nổ ầm ầm, chát chúa của bom, pháo, tôi nghe thấy tiếng khóc thét của các cháu nhỏ. Lúc đầu tiếng khóc còn như xé tai, như cứa vào tim gan chúng tôi, nhưng rồi tiếng khóc cứ nhỏ dần rồi lịm đi do các cháu đã quá sợ hãi và đuối sức.

Trong trận bom này, có một chị vừa mới sinh con được ít tháng, hy sinh do trúng mảnh bom. Chúng tôi phải thay nhau nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu bé trong những ngày luôn phải đối đầu với sự hy sinh, phải vật lộn với bom đạn để sống và phục vụ. Sau này chúng tôi đã gửi cháu về Cục Hậu cần Miền, để ba cháu đón về đơn vị. Cuối tháng 6-1970, một đại đội thám báo Mỹ lùng sục vào khu vực các gia đình của viện tạm trú ẩn. Bác sĩ, Viện phó Đỗ Hoài Nam trực tiếp chỉ đạo việc di chuyển cấp tốc các bà mẹ có con nhỏ và thương binh, bệnh binh nặng vừa về khu vực Viện Quân y K71 D đứng chân. Để giữ bí mật, anh Nam đã chỉ đạo tiêm thuốc tiền mê cho các cháu để chúng ngủ, không quấy khóc khi di chuyển.

leftcenterrightdel

Đại tá, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Kim Hà. Ảnh: HUY TÂM

Khi bọn Mỹ rút, những cán bộ, nhân viên bám trụ khẩn trương triển khai phẫu thuật cho thương binh Sư đoàn 7 chuyển về. Trong căn hầm rộng chưa đầy 30m2, kíp mổ, bác sĩ Đỗ Hoài Nam, tôi và y sĩ Đỗ Minh Nguyệt tranh thủ từng phút để mổ cho thương binh, dưới ánh sáng chập chờn của điện do một y tá quay máy nổ. Đúng vào lúc bác sĩ Đỗ Hoài Nam chuẩn bị khâu nối một khúc ruột non bị cắt đoạn, thì bom B-52, pháo bầy nổ ầm ầm cạnh hầm mổ, có quả bom nổ trên trần hầm. Nhưng mặc cho bom đạn địch thi nhau trút xuống, kíp mổ vẫn bình tĩnh xử lý cho đến khi kết thúc.

Sáng 28-6-1970, địch cho một đại đội xe tăng càn vào khu vực viện đứng chân, với dã tâm dùng xe tăng đè bẹp các căn hầm chữ A. Hai chiếc xe tăng hùng hổ lao thẳng vào khu vực Khoa Nội 3, liền bị hỏa lực B40 của viện chặn đứng. Một xe tăng bị trúng đạn, bốc cháy khiến các xe sau chựng lại, chạy ngang, húc đổ những thân cây to, không dám tiến vào sâu. Chừng 30 phút sau chúng rồ máy chạy về điểm tập kết. 

Ngày 30-6-1970, bỗng nhiên tôi thấy khu rừng trở nên yên ắng bất thường, không nghe thấy tiếng súng bộ binh. Đang phân vân thì tôi được tin địch đã rút quân khỏi khu vực viện tạm trú. Cũng tại khu rừng ở Mỏ Vẹt, ngày 9-7-1970, tôi sinh con trai đầu lòng trong một căn hầm ngập nước mưa, khi bom đạn vẫn nổ rền vang do máy bay và các trận địa pháo vẫn bắn phá cầm canh khu vực này.

Cuối năm 1970, Viện Quân y K72 được thành lập. Tôi được điều động về phục vụ. Trên đường hành quân về địa điểm viện đứng chân ở tỉnh Kông Pông Chàm, do một chân bị bại sau khi sinh, không thể đi tiếp, nên cấp trên đồng ý cho chồng tôi đang phục vụ ở Viện Quân y K59 đến đón. Khi hai mẹ con tôi vừa rời chân khỏi căn hầm khoảng 1 giờ đồng hồ, thì nghe nhiều tiếng nổ. Mấy hôm sau tôi mới biết, một quả bom rơi trúng căn hầm hai mẹ con vừa ở.

 Bà Lê Kim Hà kể tiếp, khi cuộc chiến tranh ở biên giới phía Tây Nam bước vào giai đoạn ác liệt, thương binh, bệnh binh ở các cơ sở điều trị tuyến trước dồn dập chuyển về Bệnh viện Quân y 175, dồn lên Khoa Hồi sức tích cực, nơi bà làm việc. Hàng chục đêm liền y, bác sĩ của Khoa Cấp cứu hàng trăm thương binh, bệnh binh có nguy cơ tử vong do sốc mất máu, thương tích quá nặng, sốt rét ác tính và đe dọa ác tính.

Noi theo thế hệ cha anh, bà Hà đã khắc phục vô vàn khó khăn, gian khổ, thiếu thốn để vừa tập trung công sức, thời gian vào việc cứu chữa và chỉ đạo cứu chữa thương binh, bệnh binh, vừa phải gồng mình nuôi con nhỏ đang tuổi ăn, tuổi lớn; vừa kiên trì theo học các lớp bổ túc văn hóa.

 Bằng chiếc xe đạp cũ, bà lặn lội đến các lớp học bổ túc văn hóa, đến Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh bất kể trời mưa to hay nắng chói chang để học chuyên sâu về chuyên môn. Rồi bà tốt nghiệp Chuyên khoa cấp I về hồi sức. Đến năm 1989, bà tốt nghiệp Chuyên khoa cấp II về hồi sức. Tính đến đầu năm 2000, bà đã có 12 công trình nghiên cứu khoa học được công bố trong các hội nghị khoa học của ngành quân y, hoặc do Bộ Y tế tổ chức ở khu vực phía Nam. Điển hình là sáng kiến điều trị hội chứng Giullan Bree bằng tiêm Corticoide vào khoang màng cứng. Năm 1994, bà được mời dự hội nghị quốc tế về các bệnh thần kinh cơ tại Nhật Bản và được báo cáo về kỹ thuật này trong hội nghị. Cũng trong năm 1994, bà vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

PGS, TS LÊ VĂN ĐÔNG