Núi Cánh Diều và thông điệp cho hậu thế

Cuối năm 2019, Hương Sơn tổ chức Lễ kỷ niệm 550 năm thành lập huyện. Đó là cái mốc thời gian kể từ khi các dòng người từ hạ nguồn sông La, sông Lam ngược theo dòng Ngàn Phố quần tụ tại những dải đất dọc hai bên bờ sông, hình thành nên các tổ chức hành chính ban đầu. Còn khởi nguyên cuộc sống con người trên vùng đất này thì đã có từ mấy ngàn năm trước, hình thành và phát triển cùng chiều dài lịch sử dân tộc. Lễ kỷ niệm diễn ra đúng lúc cơn bão số 4 với sức gió giật cấp 12 sầm sập tiến vào đất liền. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Hương Sơn như ngồi trên đống lửa, lo ngại kế hoạch sẽ bị thiên tai phá hỏng. Vậy mà đúng ngày diễn ra đại lễ, bão tan, trời quang mây tạnh. Lễ xong, trời lại sầm sập trút mưa. Chúng tôi ai cũng ngạc nhiên, còn cha tôi thì bảo, những vùng thiên linh, địa linh thường có hiện tượng như vậy. Các cụ ta xưa đúc kết, ấy là do “trời thương”. Cha tôi năm nay vào tuổi 84. Cuộc đời ông là chuỗi dài năm tháng khổ cực, vất vả nhưng không lúc nào ngơi đạo học. Thứ ông quý nhất trên đời, ngoài đạo lý, nghĩa tình là sách và thuốc Nam…

Tôi vui bạn vui bè trên mảnh đất quê, quên cả giờ giấc. Tỉnh dậy khi ông hàng xóm đã cày xong thửa ruộng trước nhà. Cha tôi ngồi bên bậu cửa, dưới bóng tre ngà hây hẩy gió đông. Ông gấp lại cuốn sách giấy đã ố vàng, chi chít chữ Nho được viết bằng mực Tàu. Ông bảo, đó là cuốn sách về Đông y Nam dược, được ông nội tôi để lại. Nguồn gốc của cuốn sách có từ thời cụ Tam Trường Phan Văn Mại ở cuối thế kỷ 19, được cụ chép từ tài liệu y học của đại danh y Lê Hữu Trác. “Con đi về hướng thiên y, dâng hương Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Tết này con bận công tác không về được thì xin phép tiền nhân được tảo mộ sớm”-cha nói với tôi.

Hướng thiên y cha tôi dặn là hướng Tây. Tôi theo Quốc lộ 8A ngược lên vùng núi Sơn Trung. Con đường từng được vinh danh đẹp nhất Việt Nam từ hơn 15 năm trước chạy dọc theo sông Ngàn Phố. Lăng mộ đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được ngành văn hóa địa phương, dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, tiến hành trùng tu, tôn tạo từ năm 2004, nằm bên mái núi Cánh Diều, dãy Minh Tự, thuộc thôn Hải Thượng, xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn. Đó là một quần thể văn hóa tâm linh rất linh thiêng, không chỉ là nơi chiêm bái, ngưỡng vọng của các thế hệ người dân dọc hai bờ sông Ngàn Phố mà còn là điểm du lịch tín ngưỡng, về nguồn của du khách thập phương. Mộ của đại danh y được hậu thế tôn tạo có cấu trúc như một ngôi nhà cổ của người Việt xưa, lưng tựa vào mái núi thoai thoải, mặt hướng ra sông Ngàn Phố mướt xanh bãi bồi phù sa…

Cha tôi kể, trong các cuốn sách cổ viết về đại danh y có ghi rõ rằng, sinh thời, cụ Lê Hữu Trác thường trồng cây thuốc và thả diều ở mái núi này. Trước ngày tạ thế, cụ dặn con cháu, thấy diều rơi ở đâu thì sau này đặt mộ cụ ở đó. Vị trí cụ yên nghỉ vĩnh hằng được con cháu thăm viếng, tri ân hiện nay chính là nơi cánh diều năm xưa cụ thả rơi xuống. Ơn cụ, các tên làng, tên núi ở đây được hậu thế gọi theo tên cụ và những kỷ vật gắn bó với cụ.

Tôi thắp nén hương thơm, kính cẩn cắm vào lư hương, vái lạy anh linh đại danh y. Sắc xuân vẫn còn rất mỏng manh trong buôn buốt gió đông và những khóm lá dong mới oặn mình nhu nhú, nhưng dòng người theo hướng thiên y thì đã bắt đầu rộn rịp. Tôi hỏi cha tôi, sao không gọi hướng tây, lại gọi thiên y? Có phải để chỉ hướng ấy là nơi yên nghỉ của một đại danh y vang danh bốn biển? Cha tôi gật đầu bảo, những danh nhân trí tuệ thiên bẩm, tài đức vẹn toàn, lưu danh hậu thế như cụ Lê Hữu Trác đều ngự trị trong đời sống văn hóa tinh thần của người Hương Sơn qua các thế hệ như là vị thần. Danh y cũng là “thần y”. Tri ân, tưởng nhớ hiền nhân không chỉ để bày tỏ lòng tôn kính, uống nước nhớ nguồn, mà qua nghĩa cử ấy để chúng ta được hấp thu linh khí trời đất, truyền nối linh khí, nghĩa khí ông cha…

Tôi theo lối mòn bên khe Nước Cắn lên đỉnh Minh Tự nhìn về xuôi. Dòng Ngàn Phố mùa đông phả khói sương mờ ảo, lan tỏa hương linh trong khói nhang trầm mặc. Cha tôi bảo, bóng của đỉnh Minh Tự đổ đến đâu, dòng Ngàn Phố chảy về đâu, hậu thế sẽ có những truyền nhân của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác…

“Thần y” cố Tám và triết lý nghề thầy thuốc

Đột nhiên tôi cảm lạnh. Cổ họng đau rát, ho sù sụ suốt đêm không ngủ được. Tôi uống cả vốc thuốc nhưng bệnh không thuyên giảm.

Sáng mở đất, trời lất phất mưa. Cha tôi choàng áo tơi, đội nón lá, mượn thêm của nhà hàng xóm một bộ tương tự cho tôi rồi dẫn tôi men theo triền Khe Su vào chân núi Mồng Gà ở xã Sơn Bình. Vùng đất yên nghỉ của tiền nhân các dòng họ vùng hạ nguồn bờ hữu sông Ngàn Phố giờ đây dày nghĩa trang, chi chít lăng mộ. Trong lúc các chi, nhánh, dòng họ đều xây hàng rào bê tông, ốp tường bằng đá, gạch men cho các khu mộ thì phía trên mé đồi, ngôi mộ có hình trụ, bề mặt bát giác, vẫn xanh mướt cây lá. Cha tôi nói, đó là nơi yên nghỉ của “thần y” cố Tám, một truyền nhân của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ở hạ nguồn sông Ngàn Phố.

Cố Tám không có vợ con. Cuộc đời cố được người dân các xã bờ hữu sông Ngàn Phố, như: Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn Hà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Thủy, Sơn Mỹ… và các xã lân cận của huyện Đức Thọ, Vũ Quang… tôn vinh là “thần y”. 85 tuổi đời, cố có hơn nửa thế kỷ làm công việc bốc thuốc, cứu dân. Trong ký ức của cha tôi, cố Tám dung mạo khoan thai, giọng nói từ tốn, ấm, trầm, gương mặt phúc hậu, vuông vắn tựa tượng Phật. Cố là người học cao, hiểu rộng, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, tinh thông Nho học, Pháp văn, đặc biệt là rất giỏi về y học Nam dược. Vào những năm 50-80 của thế kỷ 20, khi đa phần người dân quê tôi chưa biết đến bệnh viện, việc chữa bệnh cứu người và các phần việc về tâm linh, tín ngưỡng, hiếu, hỷ… người dân đều cậy nhờ cố Tám. Cố chữa bệnh, giúp đời, giúp người không lấy tiền của bất cứ ai. Người dân biết ơn cố, đến mùa gặt đem đến biếu cố vài ký lô gạo mới, mấy quả trứng gà hay chùm trái cây chính vụ. Khi về với tiên tổ, cố không có tài sản gì. Ngôi nhà thờ họ nơi cố sinh sống những năm tháng cuối đời, nay được hậu thế bảo tồn, tôn tạo để làm nơi thờ phụng, hương khói.

Không rõ ai trồng hay do trời đất sinh ra, xung quanh mộ “thần y” cố Tám có  nhiều cây thuốc Nam các loại. Trong tiết trời se sắt, cha tôi châm lửa đốt nhang, vái lạy anh linh “thần y”, thành tâm xin những vị thuốc xung quanh phần mộ. Khi những cây nhang cháy gần hết, cha tôi cẩn thận dùng dao cắt những nhánh lá, mỗi cây một ít gom lại thành nắm đem về. Thứ thì ông dùng nấu lá xông. Thứ ông rang vàng hạ thổ sắc cho tôi uống. Những cơn ho giảm dần. Tôi khỏi bệnh sau đó ít ngày...

Cố Tám có để lại nhiều cuốn sách về nghề thuốc và văn hóa tín ngưỡng bằng chữ Nho, nhưng rất tiếc, do thiên tai lụt lội hư hỏng hết. Tương truyền, những năm tháng cuối đời, cố có ý định truyền nghề thầy thuốc gia truyền cho hậu thế. Trong số nhiều người muốn bái cố làm thầy, cố nhắm đến một người cháu họ khá thông minh, sáng sủa. Sau mấy năm phụ việc cho cố, bữa nọ, cố gọi người cháu đến, dặn:

- Ông bị bệnh, mệt lắm! Con lên xã Ân Phú gặp ông Minh, lấy cho ông vài thang thuốc.

Lúc bấy giờ, đường từ xã Sơn Bình lên Ân Phú (nay thuộc huyện Vũ Quang) phải trèo núi, lội bờ ruộng non nửa ngày mới tới. Trời mưa rét, người cháu đội nón, quàng áo tơi rời nhà. Đến trưa, người cháu trở về tay không.

- Thuốc của ông mô rồi?-Cố Tám hỏi.

Người cháu phân trần:

- Con không lấy được ông ạ. Ông Minh nói, cố Tám là bậc thầy về nghề thuốc. Cố chỉ ốm vặt thôi, răng không tự bốc thuốc cho mình mà phải cần đến ông?

Cố Tám hai khóe mắt đỏ hoe, nhìn cháu, lắc đầu:

- Con đã nói dối ông. Con ngại đường xa đi lại khó khăn nên không hề đến nhà ông Minh. Đây là bài thử cuối cùng của ông trước khi quyết định truyền nghề cho con, nhưng con không vượt qua được. Làm nghề thầy thuốc, tuyệt đối không được nói dối, không được ngại khó, ngại khổ. Thiếu đức tính trung thực, thầy thuốc sớm muộn cũng gây họa cho dân.

Ít lâu sau, cố Tám qua đời. Cố không có truyền nhân, không phải vì cố không muốn, mà vì triết lý gia truyền của cố, nghề thầy thuốc phải lấy đức làm đầu. Dân làng biết ơn cố, chọn vị trí an táng cố trên triền đồi cao dưới đỉnh Mồng Gà, lưng tựa núi, mặt hướng ra cánh đồng mướt xanh trải dài tận bờ sông Ngàn Phố…

Tôi kính cẩn dâng hương trước mộ “thần y” cố Tám. Phía dưới chân đồi lún phún hoa cỏ may, mấy người khăn áo rỡ ràng cũng vừa rẽ cây, vạch lối lên mộ phần của cố. Họ cũng như tôi, vì điều kiện công tác xa quê nên dù mùa xuân chưa về, vẫn thành tâm xin “thần y” được tảo mộ sớm…

Ký của PHAN TÙNG SƠN