Những sáng tác của ông trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đều được tập hợp trong hai tập “Giòng nước ngược”.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông chọn cho mình một bút danh khác để phục vụ cách mạng. Đó là Bút Chiến Đấu. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II. Đánh giá về nhà thơ Tú Mỡ, nhà văn Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Giữa đám người cầm bút đông đảo “đa ngôn đa sự”, ông có vẻ như sống riêng ra, lấy sự siêng năng cần mẫn làm trọng, lấy cảnh gia đình yên ấm làm vui, không phiêu lưu, không mơ tưởng hão huyền, tin rằng thiên đường chỉ có ở trên trần thế, được sống khỏe mạnh, lại có công việc ưa thích đã là tiên cảnh lắm rồi, còn như có gì khó chịu trước sự đời thì đã có nụ cười hóa giải giúp!”.

Nhà thơ Tú Mỡ có bài thơ “Ghét Tết” làm theo thể thơ yết hậu. Yết hậu, nghĩa nôm na là “cụt ở sau”. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh định nghĩa: “Yết hậu thi là thể thơ tuyệt cú khôi hài, câu sau chót chỉ có một, hai chữ”. Như thế, thơ yết hậu là thể thơ 4 câu, mỗi câu 5 chữ (ngũ ngôn) hoặc 7 chữ (thất ngôn). Riêng câu thứ tư lại chỉ rút gọn một hoặc hai chữ nhưng cực kỳ hàm súc. Thông thường, thơ yết hậu thiên về vui nhộn, đùa tếu, trào phúng một cách thông minh, tài hoa.

leftcenterrightdel
Tranh chân dung Tú Mỡ do ông tự nghĩ ra. 

Bài thơ “Ghét Tết” của nhà thơ Tú Mỡ như sau:

Thiên hạ sao ưa Tết?

Hẳn vì mặc áo đẹp

Tớ đây bảo Tết phiền

                             Ghét!

Tiêu pha thực tốn tiền

Chè chén cứ liên miên

Hết Tết đâm lo nợ

                            Điên!

Mồng Một đi mừng tuổi

Chúc nhau nghe inh ỏi

Toàn câu sáo rác tai

                            Thối!

Mừng tuổi đèo phong bao

Năm xu lại một hào

Ai sinh cái lệ đó?

                            Hao!

Kiết xác như vờ rồi

Còn ngông đốt pháo mãi.

Pháo kêu: Tiền hỡi tiền

                             Dại!

Đọc bài thơ “Ghét Tết” của nhà thơ Tú Mỡ, chúng ta nhận ra nhà thơ ghét Tết là do Tết “phiền”. Phiền là do Tết phải “tiêu pha thực tốn tiền”, “chè chén cứ liên miên”, phải nghe những câu chúc sáo rỗng, mừng tuổi phải phong bao, và phải tốn tiền mua pháo về đốt.

Bài thơ “Ghét Tết” nằm trong các tập thơ “Giòng nước ngược” được nhà thơ Tú Mỡ xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bởi vậy, bài thơ trào phúng những ai là con dân nước Việt mà vờ quên đi nỗi nhục mất nước để mà vui vẻ đón Tết Nguyên đán một cách xa xỉ.

Tuy nhiên, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn cổ vũ việc đón Tết của người dân theo hướng tiết kiệm. Trên Báo Tiếng gọi phụ nữ (cơ quan tuyên truyền cổ động của Phụ nữ Cứu quốc) số Tết Bính Tuất 1946 ra ngày 22-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thơ gửi phụ nữ Việt Nam để cổ vũ cho đời sống mới nhân dịp nước nhà vừa mới giành được độc lập:

Năm mới Bính Tuất

Phụ nữ đồng bào

Phải gắng làm sao

Gây “Đời sống mới”

Việc thành là bởi

Chúng ta siêng mần

Vậy nên chữ cần

Ta thực hành trước

Lại phải kiệm ước

Bỏ thói xa hoa

Tiền của dư ra

Đem làm việc nghĩa

Thấy của bất nghĩa

Ta chớ tham thàn

Thế tức là liêm

Đã liêm thì khiết

Giữ mình làm việc

Quảng đại công bình

Vì nước quên mình

Thế tức là chính

Cần, kiệm, liêm, chính

Giữ được vẹn mười

Tức là những người

Sống “Đời sống mới”

Ngày 18-1-1960, lúc gần đến Tết Canh Tý, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài “Mừng Tết Nguyên đán thế nào?” (Báo Nhân Dân số 2132) nêu những việc đáng chê, đáng khen trong việc ăn Tết, nhắc nhở cán bộ phải làm gương, hướng dẫn nhân dân ăn Tết vui vẻ, tiết kiệm. Người nhận định: “Suốt năm chúng ta thi đua lao động sản xuất. Nhân ngày Nguyên đán, chúng ta vui chơi một hôm để chào Xuân. Việc đó cũng đúng thôi. Nhưng chúng ta nên mừng Xuân một cách vui vẻ và lành mạnh. Nếu có bao nhiêu tiền đều bỏ ra mua sắm hết để đánh chén lu bù, thế là mừng Xuân một cách lạc hậu, thế là lãng phí, thế là không Xuân!”. Và Người kêu gọi: “Mừng Xuân, Xuân cả thế gian/ Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới Xuân”.

Nếu nhà thơ Tú Mỡ còn sống đến hôm nay, chắc nhà thơ sẽ mừng vì có thêm một điều “phiền” đã được bỏ. Đó là việc người dân đốt pháo ngày Tết.

Năm mới ở Trung Quốc bắt đầu bằng việc xua đuổi con “niên” (năm). Theo truyền thuyết, ngày xửa ngày xưa, ở Trung Quốc có con thú gọi là “niên”, trên đầu mọc sừng, hết sức hung dữ. Con “niên” quanh năm suốt tháng sống dưới đáy biển, cứ vào đầu năm mới thì nó mới lên bờ để giết súc vật và hại người. Tuy nhiên, con vật này sợ tiếng ồn nên người Trung Quốc đã dùng pháo đốt để xua đuổi. Bởi vậy, những ngày đầu năm trong tâm thức của người Trung Quốc xưa là một nỗi sợ chứ không phải là mừng vụ mùa như người Việt cổ.

Lúc trước, do bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, cứ Tết Nguyên đán đến là khắp mọi miền ở nước ta nhà nhà đều đốt pháo. Tuy nhiên, Nhà nước hiện đã cấm người dân đốt pháo. Xét về góc độ văn hóa, việc đốt pháo vào những ngày đầu năm mới không phải là nét văn hóa của người Việt. Trên thực tế, việc đốt pháo để xua con “niên” không phù hợp với Việt Nam vì nước ta không hiện tồn một truyền thuyết nào về con “niên” này. Bởi vậy, là người Việt thì chúng ta không nên đốt pháo vào ngày Tết. Bên cạnh đó, hành vi đốt pháo vừa lãng phí tiền của và cũng rất dễ xảy ra rủi ro về tính mạng và sức khỏe cho bản thân người đốt pháo cũng như những người xung quanh.

NGUYỄN VĂN TOÀN