12 năm và 6 tháng
Dẫu biết đời sống của anh chị em nghệ sĩ ở Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch TP Hồ Chí Minh còn nhiều khó khăn, nhưng khi đến “đại bản doanh” của họ, hiện thực vẫn vượt xa sự hình dung của tôi. Nằm ở tầng hầm của công trình nhà hát có tuổi đời hơn 100 năm với lối kiến trúc mang đậm phong cách cổ điển châu Âu, căn phòng làm việc của NSƯT Trần Vương Thạch, Giám đốc nhà hát giản dị hết mức có thể. Một bộ bàn ghế cũ xoàng, một giá sách cũ và một cái tủ đựng tài liệu bằng tôn cũng rất cũ kỹ… Và rồi câu chuyện của chúng tôi, chẳng biết vô tình hay hữu ý, cũng bắt đầu bằng những ký ức xưa cũ… “Người ta thường lấy mặt bằng kinh tế để soi chiếu thực trạng của đời sống nghệ thuật, nhưng với khí nhạc mà nói, kết quả của sự soi chiếu ấy là một hình ảnh gấp khúc. So với thời hoàng kim của khí nhạc Việt Nam từ hơn 30 năm trước, hiện tại nền kinh tế đất nước đã đạt những thành tựu vượt bậc nhưng khí nhạc thì chững lại và có nhiều mặt tụt hậu rất xa so với thế giới”, người đứng đầu Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch TP Hồ Chí Minh cảm thán.
    |
 |
|
Bùi Công Duy, một tài năng violin Việt Nam đã trải qua nhiều năm học tập, biểu diễn ở nước ngoài |
Ở thời hoàng kim mà NSƯT Trần Vương Thạch vừa nhắc đến, chúng ta đã có một đội ngũ các nhà soạn nhạc, diễn viên, nhạc công giao hưởng, nhạc kịch, vũ kịch… rất hùng hậu. Theo giới chuyên môn, Việt Nam từng là quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về khí nhạc. Có được thành quả đó là bởi chúng ta được các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (trước đây), Đông Âu và Trung Quốc, Triều Tiên… giúp đào tạo nguồn nhân lực hùng hậu và hỗ trợ phát triển đời sống khí nhạc. Những tên tuổi lớn của khí nhạc Việt Nam như: Nguyễn Văn Thương, Đỗ Nhuận, Chu Minh, Hoàng Vân, Ca Lê Thuần, Hồng Đăng, Trọng Bằng… đã góp phần làm rạng danh khí nhạc Việt Nam trên bản đồ âm nhạc khu vực và châu lục.
Khí nhạc và nhiều loại hình nghệ thuật hàn lâm, cổ điển bắt đầu gặp khó khi đất nước bước vào giai đoạn đổi mới. Công tác đào tạo và hoạt động sáng tác, biểu diễn ngày càng khó khăn, thậm chí có những phân khúc rơi vào bế tắc. Mấu chốt của vấn đề vẫn là sự bất cập giữa cơ chế, chính sách đãi ngộ, thực tế đời sống nghệ sĩ với công sức, tâm huyết mà nghệ sĩ bỏ ra. Để đào tạo được một nhạc sĩ sáng tác khí nhạc cần ít nhất 10-12 năm. Đào tạo một nghệ sĩ biểu diễn hoặc chỉ huy dàn nhạc có trình độ đại học, thời gian phải từ 15 năm trở lên. Hiện cả nước chỉ có Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có chuyên ngành đào tạo khí nhạc ở các nhạc viện, nhưng việc tuyển sinh rất nhỏ giọt, tuyển chọn năng khiếu để gửi đi đào tạo ở nước ngoài lại càng ít hơn. Không phải chúng ta thiếu tài năng kế cận mà cái chính là lớp trẻ không mấy mặn mà với loại hình nghệ thuật đòi hỏi phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt rất nhiều nhưng thu nhập chẳng bao nhiêu. Đào tạo ít, nhưng đầu ra cho sinh viên khí nhạc lại vô cùng bấp bênh. Đa phần nghệ sĩ khí nhạc sau khi ra trường đều chuyển qua thanh nhạc hoặc làm trái ngành.
NSƯT Trần Vương Thạch nêu một ví dụ để minh chứng cho những bất cập này: “Để đào tạo được một nghệ sĩ múa ba lê, chúng ta phải phát hiện tài năng và dạy các cháu từ lúc 6-7 tuổi. Ít nhất sau 12 năm các cháu mới được cấp bằng trung cấp, đủ điều kiện biểu diễn. Vậy nhưng mức lương, chế độ phụ cấp cho nghệ sĩ thì chỉ được tính bằng một người học trung cấp nghề trong… 6 tháng”.
Những năm gần đây, các đơn vị nghệ thuật công lập, trong đó có khí nhạc, chịu sự tác động của chủ trương tinh giản biên chế. Lực lượng đã thiếu lại càng thiếu hơn. Đơn cử như một dàn nhạc giao hưởng theo chuẩn quốc tế lên đến hàng trăm nghệ sĩ, nhạc công, người phục vụ. Đó là bộ khung bắt buộc, không thể thiếu. Nhưng trong bối cảnh tinh giản biên chế hiện nay, rất khó để tuyển dụng cho đủ. Năm 2014, chúng ta có đại diện dàn nhạc giao hưởng tham dự liên hoan quốc tế tại Nhật Bản. TP Hồ Chí Minh phải gom toàn bộ lực lượng sáng tác, biểu diễn khí nhạc của Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch, Nhạc viện thành phố và các đơn vị nghệ thuật trên địa bàn mới có đủ bộ khung, tập luyện trong 3 tháng để đi thi thố...
Đừng “niệm thần chú” bằng cảm tính
Khi nhắc đến đời sống nghệ thuật hàn lâm và nghệ thuật dân tộc, mối quan tâm hàng đầu chính là yếu tố khán giả. Tình trạng nhiều nhà hát phải đóng cửa, hàng loạt đoàn nghệ thuật dân tộc phải giải thể do không nuôi nổi mình trong thời kinh tế thị trường đã chứng minh điều đó. Nhưng với khí nhạc những năm gần đây, nỗi lo khán giả không còn là bài toán khó. Bằng chứng là những vở nhạc kịch kinh điển được các nghệ sĩ trong nước phối hợp với một số nghệ sĩ nổi tiếng thế giới dàn dựng, biểu diễn đều có lượng khán giả đông đảo, dù giá vé lên đến tiền triệu. Có được điều này, một phần quan trọng do môi trường hội nhập quốc tế mang lại. Riêng tại TP Hồ Chí Minh, nơi thu hút đông đảo chuyên gia, người lao động nước ngoài đến làm việc và sinh sống, luôn có một lượng khán giả nhất định cho nghệ thuật hàn lâm, tiêu biểu là khí nhạc. Thêm nữa, việc đưa khí nhạc vào đời sống sinh viên, công chức bằng các chương trình biểu diễn phục vụ miễn phí liên tục những năm vừa qua đã góp phần nâng cao khả năng và nhu cầu cảm thụ nghệ thuật, nuôi dưỡng lượng khán giả đông đảo. Đó là những dấu hiệu khả quan để giới nghệ sĩ, chuyên gia nhận định, nếu được đầu tư phát triển bài bản, khí nhạc sẽ có “đất sống” và phát triển trong lòng công chúng đô thị đương đại. Dự án xây dựng Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ kịch hiện đại với số vốn đầu tư hơn 1.500 tỷ đồng tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm được HĐND TP Hồ Chí Minh thông qua chính là một trong những bước đột phá nằm trong chiến lược đầu tư phát triển khí nhạc Việt Nam tại thành phố năng động nhất cả nước. Đáng tiếc, do bị áp lực dư luận nên dự án đang phải tạm dừng, chưa biết đến khi nào mới có thể tái khởi động.
Sự chỉ trích của một bộ phận đông đảo công chúng thông qua truyền thông và mạng xã hội, cho dù sự thật là rất nhiều người chưa có điều kiện tìm hiểu, am tường về khí nhạc mà chỉ nói theo cảm tính, đã vô tình biến thành những “câu thần chú”, đẩy khí nhạc và môi trường hoạt động của giới nghệ sĩ chuyên môn đi vào ngõ hẹp.
Tại các cuộc hội thảo, diễn đàn nghề nghiệp của giới chuyên gia, nghệ sĩ, nhà quản lý nghệ thuật thời gian qua, hướng đi cho khí nhạc Việt đã được định hình, định dạng trên 3 yếu tố chính: Đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực; có cơ chế, chính sách đặc thù trong tuyển dụng, chế độ đãi ngộ nghệ sĩ và đầu tư phát triển cơ sở vật chất. Theo đó, để tạo nguồn nhân lực khí nhạc cho tương lai, công tác đào tạo phải được xây dựng bằng chiến lược bài bản. Việc tuyển sinh các ngành của khí nhạc phải theo chuẩn quốc tế, không thể áp dụng chung quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hiện nay. NSƯT Trần Vương Thạch dẫn ví dụ: “Chẳng hạn, để tuyển sinh đào tạo chỉ huy dàn nhạc, các nước tiên tiến trên thế giới đều quy định thí sinh phải tốt nghiệp đại học một chuyên ngành nhạc cụ. Ở ta trước đây cũng từng áp dụng như vậy, nhưng hiện nay, với quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì chỉ cần thí sinh tốt nghiệp trung cấp nghệ thuật, bất kể ngành gì là đã có thể đủ điều kiện để được đào tạo đại học chỉ huy dàn nhạc. Sự thông thoáng của quy chế vô hình trung hạ thấp tiêu chuẩn đầu vào đào tạo chỉ huy dàn nhạc, lĩnh vực môi trường nghệ thuật hàn lâm thế giới đòi hỏi rất khắt khe”.
Song song với đào tạo, cần có những điều chỉnh ở tầm vĩ mô về cơ chế, chính sách sử dụng nguồn nhân lực, chế độ đãi ngộ đối với giới nghệ sĩ. Sẽ rất khó để thu hút nhân tài cho khí nhạc nếu áp dụng kiểu cào bằng giữa lao động nghệ thuật với các ngành nghề phổ thông. Câu chuyện một nghệ sĩ múa ba lê học 12 năm có trình độ trung cấp nghệ thuật với người học nghề trong 6 tháng hưởng một mức lương, phụ cấp như nhau là một ví dụ cho thực trạng bất cập cần phải được tháo gỡ.
Khí nhạc là nghệ thuật hàn lâm nên cơ sở vật chất cho lĩnh vực nghệ thuật này cũng phải hàn lâm. Sau hơn 100 năm xây dựng, đến nay Nhà hát TP Hồ Chí Minh vẫn phải “còng lưng” gánh vác sứ mệnh là môi trường biểu diễn giao hưởng duy nhất đạt chuẩn. Các nhà hát khác trong thành phố chỉ phù hợp với biểu diễn thanh nhạc và các loại hình nghệ thuật khác. Việc có một nhà hát giao hưởng, nhạc vũ kịch đúng chuẩn quốc tế hiện đại không chỉ là mơ ước, khát khao của những người làm nghề, mà còn là đòi hỏi tất yếu của văn hóa trong hành trình phát triển song hành với kinh tế.
Vậy nên, cùng với những điều chỉnh, bổ sung về cơ chế, chính sách đào tạo, thu hút, sử dụng nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô nhằm tháo “vòng kim cô” cho khí nhạc, công chúng cũng nên có cái nhìn thấu đáo, đừng vội vã quy kết, quy chụp theo cảm tính.
Thêm nữa, trong môi trường Cách mạng công nghiệp 4.0, giới truyền thông, nhất là các đài truyền hình, các kênh truyền hình internet, cần ưu tiên dung lượng và thời lượng phát sóng các chương trình khí nhạc vào những khung giờ “vàng” để đưa khí nhạc đến gần hơn với công chúng. Như hiện nay, cứ bật ti vi lên là thấy gameshow ca nhạc thì quả giữa thanh nhạc và khí nhạc đã có sự “phân biệt đối xử” rất không công bằng rồi...
PHAN TÙNG SƠN