QĐND - Chiến đấu phòng ngự Thượng Đức của Sư đoàn 304 năm 1974 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, nó không những được vận dụng vào thực tiễn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây mà còn là cơ sở nghiên cứu phát triển lý luận cho chiến đấu phòng ngự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau.
Quận lỵ Thượng Đức, nay là thôn Hà Tân, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 40km về phía tây. Địa hình hiểm trở, ba mặt là núi cao, nhiều vách đứng. Phía bắc có dãy Tiên Sơn, An Điềm, Đồng Lâm, Điểm cao 776 kéo dài tới Điểm cao 1062, 1225. Phía nam cách khoảng 1,5km là dãy núi Hữu Trinh cao 848m. Phía đông và đông bắc cách khoảng 4km là dãy núi Ba Khe, chạy sát ra sông Vu Gia, chia cắt Thượng Đức thành khu vực độc lập. Hướng tây có dãy núi Hà Tân và Ba Khe thoải dần về phía đông. Đường số 4 chạy từ Hòa Phát qua Hiếu Đức, Thượng Đức đến bến Hiên. Đường số 14 chạy từ Thượng Đức qua cầu Hội Khánh đến bến Giàng…
Về địch, sau khi ta tiến công giải phóng Thượng Đức ngày 7-8-1974, với ý định phải chiếm lại bằng được Thượng Đức, địch đã điều Sư đoàn Dù là lực lượng tổng dự bị tinh nhuệ mạnh nhất từ Trị Thiên vào tham chiến. Về ta, Sư đoàn 304 nhận nhiệm vụ chuyển vào phòng ngự đánh bại phản kích của địch, giữ vững Thượng Đức, giữ vững vùng giải phóng trong một thời gian dài, tạo thế và lực sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong tình thế thời cơ mới.
Để thực hiện nhiệm vụ, Sư đoàn 304 đã vận dụng cách đánh: Tập trung hỏa lực từ xa, kiềm chế, ngăn chặn địch; dựa vào thế trận phòng ngự kết hợp vật cản, hỏa lực; phòng ngự tích cực, kiên cường, vững chắc; tạo thời cơ vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu đưa địch vào khu vực dự kiến, liên tục bao vây tiến công, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch; phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương giữ vững vùng giải phóng; khi địch phản kích thất bại, nhanh chóng tổ chức lực lượng chuyển sang tiến công theo hướng đã định.
Trận chiến đấu của Sư đoàn 304 được chia làm ba đợt: Đợt 1 từ ngày 18-8 đến đầu tháng 10-1974 là tập trung đánh địch tiến công từ nhiều hướng. Đợt 2 từ trung tuần tháng 10 đến đầu tháng 11-1974 là ta điều chỉnh lại lực lượng đánh bại 4 tiểu đoàn dù địch. Đợt 3 từ đầu tháng 11 đến cuối tháng 12-1974 là sư đoàn điều chỉnh lại đội hình lực lượng và nhiệm vụ, đánh địch giữ vững trận địa, củng cố bổ sung lực lượng sẵn sàng cho nhận nhiệm vụ tiếp theo khi có thời cơ.
 |
| Bộ đội ta tiếp quản Chi khu Thượng Đức năm 1974. Ảnh tư liệu |
Trải qua gần 5 tháng phòng ngự, Sư đoàn 304 đánh bại nhiều đợt tiến công của địch, tiêu diệt 4 đại đội dù, đánh thiệt hại 4 tiểu đoàn, diệt 3.705 tên, bắt 14 tên, bắn rơi 11 máy bay, thu nhiều vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh, đánh bại âm mưu tái chiếm của Sư đoàn Dù địch, giữ vững vùng giải phóng Thượng Đức. Đồng thời cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý.
Một là, chủ động chuyển vào phòng ngự nhanh, hạ quyết tâm chính xác, lập thế trận liên hoàn vững chắc.
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đánh bại địch tiến công đánh chiếm lại Thượng Đức và giữ vững vùng giải phóng được cấp trên giao, sư đoàn đã chủ động lựa chọn hình thức chiến thuật phòng ngự ngay sau khi kết thúc tiến công Thượng Đức, cho nên để tạo thế, lực thuận lợi cho sư đoàn chuyển vào phòng ngự trong 3 ngày liền (15, 16, 17-8-1974), sư đoàn giao cho Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 tiến công, cài thế bao vây sẵn, tập trung lực lượng, được pháo binh Sư đoàn 304 chi viện tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 57, Sư đoàn Bộ binh 3 ngụy và trận địa pháo ở Gò Tròn, Gò Ôm và khu đồn Hà Nha, Bàn Tân và Động Hà Sống, buộc địch phải lùi ra xa, triển khai tiến công ở địa hình không thuận lợi.
Trong điều kiện sư đoàn vừa giành thắng lợi trong tiến công giải phóng Thượng Đức, với điều kiện hết sức khó khăn cả về cách đánh, về hiệu suất chiến đấu, về tỷ lệ thương vong nhiều, lại phải chuyển vào phòng ngự ngay (ngày 17-8 kết thúc tiến công thì ngày 18 địch phản kích ngay) là một bài học về năng lực lãnh đạo, chỉ huy tài giỏi của cán bộ chỉ huy các cấp và ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của bộ đội. Cách đánh phòng ngự được nhận thức đúng ngay từ khi nhận nhiệm vụ, được thống nhất trong toàn sư đoàn và xuyên suốt trong công tác chuẩn bị cả trước, sau từng trận, từng đợt chiến đấu mặc dù khi đó, hình thức chiến thuật phòng ngự của cán bộ, chiến sĩ rất ít có kinh nghiệm, không được huấn luyện nhiều, thậm chí đơn vị cơ sở có đơn vị không được huấn luyện nên nội dung, cách thức thực hiện quyết tâm còn hạn chế.
Sư đoàn triệt để tận dụng các điểm cao dọc trục đường, nhất là Điểm cao 1062 để ngăn chặn, khống chế hoạt động của địch trước trận địa. Trên cơ sở hệ thống công sự chuẩn trước, quá trình chiến đấu tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh tăng tính vững chắc, liên hoàn của công sự trận địa. Thiết kế công sự rất hiểm hóc, bí mật tận dụng địa hình địa vật để cấu trúc công sự. Tuy nhiên, cấu trúc tiền duyên đợt đầu chưa hợp lý, tiền duyên còn ở cao chưa khống chế được địch bám vào chân đồi. Phó tư lệnh Quân đoàn 2 Hoàng Đan chỉ đạo bộ đội đào hầm moi chống phi pháo địch. Tiền duyên hạ thấp hơn. Các đơn vị phòng ngự thường xuyên phái các phân đội nhỏ tinh gọn đánh phản chuẩn bị tấn công của quân dù giữa các đợt chiến đấu, như phá hủy kho tàng, tập kích trận địa pháo, cài mìn, phục kích trên đường đi của địch, lực lượng dù thường xuyên bị tiêu hao rối loạn, hạn chế sức tiến công của chúng.
Hai là, chiến đấu kiên cường ngăn chặn địch, tích cực đánh địch cả phía trước và phía sau, phá chuẩn bị tiến công của chúng.
Mặc dù chiến đấu ngăn chặn đánh bại địch tiến công với một đối tượng là sư dù của địch trong điều kiện hết sức khó khăn về quân số, vũ khí trang bị, đạn dược, công sự trận địa và thời tiết là mùa mưa nhưng những trận đánh địch tiến công trận địa ở các điểm cao diễn ra trong suốt tháng 10 và đầu tháng 11-1974. Đây là cuộc đọ sức nảy lửa nhất, ác liệt nhất của hai bên. Hai bên giành giật nhau từng tấc đất, từng mỏm đồi. Cuộc chiến đấu trở nên vô cùng ác liệt và gian khổ. Trung tướng Phạm Xuân Thệ, nguyên Trung đoàn phó Trung đoàn 66, nhớ lại: “Những ngày đó mưa lớn kéo dài, các trận địa chốt ngâm trong nước, hầm hào sạt lở. Việc vận chuyển, tiếp tế của quân đoàn từ phía sau gặp khá nhiều khó khăn. Sức khỏe giảm sút, quân số thiếu hụt nên ở một số nơi, có đơn vị không đủ sức giữ vững trận địa. Quân đội Sài Gòn đã chiếm được một số cao điểm: 109, 700, 383… trong hệ thống phòng ngự phía trước”. Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Mã Lương, nguyên Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, nói: “Tháng 8 khởi đầu mùa mưa lớn, các con đường đều sụt lở, lầy lội, suối sâu nước đổ ào ào. Hằng ngày, máy bay, pháo binh trút bom đạn dữ dội. Các tuyến hào chiến đấu ngược lên đỉnh 1062 đầy bùn nước sền sệt ngập tới đầu gối. Đi trên đỉnh như đi trong sình lầy, cây cối chỏng chơ không còn một chiếc lá trên cành, nơi đây từng là khu rừng rậm rạp nhưng bây giờ tựa như cánh đồng hoang đầy hiểm họa. Mỗi khi quân ta vừa chiếm được 1062, lập tức địch giội pháo, điên cuồng xông lên quyết chiếm lại. Cả hai bên mất đi, rồi giành lại đỉnh 1062 nhiều lần. Pháo, súng, lựu đạn và bom napan đốt cháy cả cánh rừng nguyên sinh, cày nát đỉnh đồi. Sư đoàn tích cực tổ chức các trận tập kích phía sau lưng địch vào các trận địa pháo, sở chỉ huy, kho tàng của địch. Cuối cùng, địch phải rời bỏ điểm cao 1062, thiệt hại đến 50% quân số sau 4 tháng giao tranh”.
Ba là, chủ động chuyển hóa thế trận có lợi, củng cố trận địa sau từng đợt tiến công của địch.
Thế trận ban đầu, sư đoàn đã cơ bản thuận lợi do chủ động tiến công đánh chiếm địa hình có lợi để ngăn chặn địch từ xa, đẩy địch vào thế triển khai bất lợi khi tiến công. Song quá trình chiến đấu, ba lữ đoàn dù thay nhau tiến công, chúng dùng nhiều thủ đoạn chiến thuật “luân xa chiến”, “đợt sóng liên hồi”, “càng cua hoa thị”, liều mạng bám sát chốt ta hòng đánh chiếm khi chiến sĩ ta mệt mỏi, sơ hở. Thực tế đã có thời gian địch chiếm được điểm cao 109, 383, 700, 800, 1062 làm cho thế trận ta suy giảm, có nguy cơ mất thêm trận địa. Trước tình hình đó, Quân đoàn 2 và trực tiếp là Sư đoàn 304 thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm, điều chỉnh thế trận cho phù hợp. Bước vào đợt 3, trước tình hình ta và địch đều có những hạn chế nhất định, thế trận giằng co, để bảo đảm đánh được lâu dài, sư đoàn điều chỉnh lại thế trận cho phù hợp với thế và lực của sư đoàn.
Tháng 10, sư đoàn tiến hành tập huấn về phòng ngự cho cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn. Mỗi lớp tập huấn được tổ chức 3 ngày - một hình mẫu trận địa được xây dựng ngay cạnh lớp học, các cán bộ được tự do nêu ý kiến phân tích, tranh luận đến cùng. Tuy chỉ tổ chức tập huấn trong 3 ngày nhưng nhờ xây dựng trận địa làm mẫu, nội dung huấn luyện sát với những thực tế đòi hỏi nên hiệu quả mang lại rất cao: Tất cả cán bộ đều biết cách xây dựng trận địa, biết cách đánh và tin tưởng ở cách đánh.
Bốn là, lãnh đạo chỉ huy các cấp có ý chí quyết tâm cao, gần gũi chiến sĩ, luôn luôn có mặt ở trận địa để giữ vững tinh thần cho bộ đội.
Cuối tháng 10-1974, Đảng ủy Sư đoàn 304 họp mở rộng và thống nhất nhận định: Địch tuy chiếm được một số chốt nhưng chúng đã bị động và sa lầy ở mặt trận Thượng Đức. Quyết tâm của Đảng ủy sư đoàn là nhanh chóng rút kinh nghiệm chiến đấu, tổ chức lại trận địa phòng ngự, nhất là hầm hào, chặn đứng Sư đoàn Dù, đánh bại âm mưu tái chiếm Thượng Đức.
Được sự lãnh đạo chỉ huy mưu trí, sâu sát, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, các đơn vị đã giữ vững được tư tưởng tích cực tiến công, biết bao gương hy sinh anh dũng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng xuất hiện: Trung úy Nguyễn Văn Áy bị thương cụt hai chân và một cánh tay vẫn xin nằm lại trên chốt để chỉ huy bộ đội chiến đấu; Chính trị viên Thuyết, sau khi chiếm lại Điểm cao 1062, đại đội chỉ còn 4 người, bản thân đồng chí cũng bị thương vẫn ở lại cùng đồng đội giữ trận địa tới lúc có lực lượng phía sau lên thay thế; chiến sĩ Nguyễn Văn Thơ trong chiến đấu đã dũng cảm mưu trí, chụp bắt hàng chục quả lựu đạn của địch ném vào công sự ta để ném trả diệt chúng, trước lúc hy sinh, Nguyễn Văn Thơ còn bình tĩnh động viên anh em quyết đánh thắng địch.
Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, trước đối tượng tác chiến sử dụng vũ khí công nghệ cao, có ưu thế về binh hỏa lực, có khả năng cơ động cao và tác chiến điện tử rộng rãi, chiến đấu phòng ngự sẽ có nhiều phát triển mới cả về lý luận, tổ chức và thực hành. Song những bài học kinh nghiệm chiến đấu phòng ngự của Sư đoàn 304 ở Thượng Đức vẫn còn nguyên giá trị.
Trung tá, Thạc sĩ NGUYỄN VĂN BIỀN (Khoa Chiến thuật, Chiến dịch - Học viện Chính trị)