QĐND - Hiện nay, trên cả nước có 56 cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật, nhưng chỉ có hơn 10 cơ sở ở thành phố lớn như: Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, còn lại là ở các tỉnh. Gần 90% tài năng ở các lĩnh vực văn hóa, thể thao sinh ra từ nông thôn. Nông thôn đẻ ra tài năng, nhưng lại ít được tài năng quay về để phục vụ lại quê hương mình… Đó là những thông tin của PGS, TS Đào Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH-TT-DL) đưa ra trong một cuộc tọa đàm mới đây mang chủ đề “Tổ quốc và ý nguyện của nông dân”. Ông cũng đã có những chia sẻ cùng phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần về tầm quan trọng của những giá trị văn hóa ở nông thôn và sự quan tâm của Bộ VH-TT-DL đối với công tác đào tạo nghệ thuật ở các vùng miền của Tổ quốc.

Phóng viên (PV): Câu chuyện chuyển dịch nguồn nhân lực từ nông thôn ra thành thị đã diễn ra trong nhiều năm qua. Ông có thể đánh giá tác động của sự chuyển dịch ấy đối với nông thôn nói riêng và xã hội nói chung?

PGS, TS Đào Mạnh Hùng.

PGS, TS Đào Mạnh Hùng: Như chúng ta đã biết, những miền quê Việt Nam là môi trường sản sinh ra rất nhiều tinh hoa văn hóa dân tộc Việt. Cũng có thể nói cụ thể hơn là tất cả các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, dân ca các vùng miền, rồi đến các lễ hội, phong tục, tập quán, được sinh ra và duy trì ở nông thôn. Đó chính là yếu tố quan trọng hình thành nên bản sắc văn hóa của dân tộc. Có điều, con người sinh ra ở nông thôn nhưng khi lớn lên và trưởng thành thì lại hướng về thành thị, miền quê sinh ra chỉ còn là nỗi nhớ, phần lớn những tài năng khi phát triển thì ở lại thành thị để kiếm sống. Có người làm đúng nghề, rất nhiều người làm không đúng nghề được đào tạo. Người ta sẵn sàng làm trái ngành, trái nghề, vấn đề là được sống ở thành thị. Chính vì thế nông thôn cạn dần “vốn” của mình.

Nông thôn sinh ra, nuôi dưỡng những tài năng, những con người có năng khiếu, rồi người ta đi học hành và không bao giờ trở về nông thôn nữa. Trào lưu chuyển về thành thị là quy luật. Vì nguyên tắc là, người ta luôn mưu cầu cuộc sống những chỗ văn minh hơn. Nhiều bậc cha mẹ ở nông thôn cũng sẵn sàng làm những việc vất vả nhất để có hạt gạo, đem bán cho con đi học, để ra khỏi quê hương mình.

Vì sao như thế? Vì người nông dân bao đời nay cứ quần quật ở đồng ruộng nhưng vẫn nghèo, văn minh cũng không đến được nhiều với họ. Việc ấy khiến người ta hình thành ý niệm hy sinh đời bố mẹ để con em được ra thành thị.

Tôi cho đây là một nguy cơ nếu chúng ta không cân đối, không có những cơ chế, chính sách tập trung cho nông thôn, thì sự chênh lệch sẽ mang đến sự không ổn định. Ở đây có hai xu hướng, xu hướng chuyển về thành thị của những người có tài năng sinh ra ở nông thôn và xu hướng mở cửa không chọn lọc của thành thị. Quy luật của hội nhập mang đến sự phát triển, nền kinh tế có nhiều cơ hội để có thể phát triển, nhưng bản sắc của văn hóa dân tộc và nông thôn, gia đình có nguy cơ mai một, do vậy chủ trương của Đảng ta xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là hết sức đúng đắn và phù hợp, chủ trương đó cần phải được thực hiện một cách tích cực và triệt để.

PV: Trên thực tế, các đoàn nghệ thuật địa phương đang hoạt động cầm chừng. Vì thế, những người có khả năng trong lĩnh vực văn hóa-văn nghệ, sau khi được đào tạo tại khu vực thành thị, nếu trở về địa phương sẽ không còn đất để diễn. Đó là một yếu tố khiến họ buộc phải ở lại khu vực thành thị, thưa ông?

PGS, TS Đào Mạnh Hùng: Đó là do tùy từng địa phương thôi, không phải ở tất cả các vùng nông thôn đều triệt tiêu nghệ thuật truyền thống. Ở một số vùng nông thôn chúng ta, nghệ thuật truyền thống đang “sống” rất mạnh mẽ. Đơn cử như Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh ở Đà Nẵng. Người ta sống vì có lớp khán giả rất yêu quý tuồng. Tôi đã đến xem cả diễn viên ở trên và khán giả ở dưới. Người ta say mê, tâm đắc, hát theo và cổ vũ. Đó là những khán giả lý tưởng. Một số phường rối nước như ở Thái Bình, Nam Định… vẫn “sống”. Các làng chèo Nam Định, Hà Nam… vẫn “sống”. Dân ca quan họ ở Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, hát xoan ở Phú Thọ, ca bài chòi ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam vẫn được nhân dân yêu mến, vì các loại hình nghệ thuật truyền thống dân tộc đó được sinh ra từ chính quê hương họ và tình yêu với nghệ thuật dân tộc đã ngấm vào máu của mọi thế hệ con người ở đây. Vì vậy, ở những địa phương này nghệ thuật dân tộc có nguồn khán giả riêng.

Nghệ thuật truyền thống vẫn có chỗ đứng ở nơi sinh ra nó. (Trong ảnh: Một tiết mục tuồng của Nhà hát Tuồng Đà Nẵng). Ảnh: Hoàng Du

Như vậy, nếu có sự đầu tư của Nhà nước, cộng thêm ở địa phương có những người lãnh đạo giỏi, lại yêu mến nghệ thuật truyền thống, thì sẽ tổ chức được việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống dân tộc. Khi người nông dân xem nghệ thuật truyền thống của vùng miền họ, trước hết họ tìm thấy được phong vị của cha ông, niềm tự hào với quê hương của họ. Cớ sao họ không yêu? Vấn đề là chúng ta không đầu tư hoặc đầu tư quá ít.

Tôi cho rằng, nghệ thuật truyền thống dân tộc phải được đầu tư nhiều hơn đặc biệt là ở các địa phương. Nghệ thuật truyền thống dân tộc ở thành thị bên cạnh việc phục vụ khán giả có thể đưa vào nội dung của các tour du lịch, phục vụ khách nước ngoài với những phương thức phù hợp. Với các địa phương, ở mỗi cái nôi sinh ra nghệ thuật truyền thống cần được tập trung để có một cái nhà hát. Ví dụ, chèo ở Thái Bình, quan họ ở Bắc Ninh, tuồng ở Bình Định, Đà Nẵng, bài chòi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi… để bảo tồn cái vốn nghệ thuật ở chính địa phương ấy. Có nhà hát rồi thì cần phải được đầu tư xây dựng tiết mục, tổ chức biểu diễn, quảng bá... Tôi nghĩ rằng vấn đề mấu chốt là ở sự đầu tư của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của lãnh đạo địa phương.

PV: Hiện chúng ta vẫn tập trung đầu tư cho các đoàn nghệ thuật truyền thống tại khu vực thành thị, trong khi bản thân các đoàn này sống rất lay lắt.

PGS, TS Đào Mạnh Hùng: Ở thành thị, những nhà hát truyền thống dân tộc được đầu tư vẫn duy trì và phát triển tốt nhưng bên cạnh đó chúng ta nên phát triển nhiều hơn những câu lạc bộ quy mô vừa phải, năng động để có thể đi đến với khán giả nhiều hơn, đều đặn hơn. Tất nhiên, vẫn cần những nhà hát sân khấu truyền thống phải ra nhà hát, ở đó phải có sự thuần khiết nhất, tinh hoa nghệ thuật truyền thống dân tộc, như Bác Hồ đã căn dặn: “Chớ có gieo vừng ra ngô”… Khán giả không chấp nhận sự lai căng.

PV: Xu hướng di dân ra khu vực thành thị là tất yếu. Chính xu hướng này, trải qua hàng trăm năm, đã tạo ra một Hà Nội đa sắc như hiện nay. Như vậy, xu hướng di dân ra khu vực thành thị cũng đem lại những tác động tích cực chứ không hẳn làm phá vỡ bản sắc văn hóa truyền thống, thưa ông?

PGS, TS Đào Mạnh Hùng: Tất nhiên đô thị bao giờ cũng là trung tâm. Vấn đề hiện nay là chúng ta tổ chức không được đều, đưa hết về thành thị và người ta cũng tự nguyện về hết thành thị. Các nhà hát ở chính những nơi thể loại nghệ thuật truyền thống dân tộc sinh ra lại không được quan tâm nhiều.

Chúng ta chọn tinh hoa về trung tâm nhưng không thể quá chú trọng đến trung tâm mà bỏ quên khu vực vệ tinh. Vấn đề phải có sự cân đối. Ở đây liên quan các vấn đề về đầu tư cơ sở vật chất, chế độ chính sách cho người làm nghệ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, quy hoạch phát triển văn hóa vùng miền…

PV: Ở góc độ đào tạo, Bộ VH-TT-DL đã có những giải pháp gì nhằm giảm đi sự chênh lệch ấy, thưa ông?

PGS, TS Đào Mạnh Hùng: Hiện nay, ngành văn hóa đang tiếp tục tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, quy hoạch xây dựng hệ thống các trường, các trung tâm đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch trên toàn quốc từ khu vực Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, khu vực Bắc Trung Bộ, khu vực Tây Bắc đến khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ... Các trường và trung tâm này có mục tiêu chính là đào tạo cho con em các địa phương, để các em có trình độ, năng lực phục vụ chính quê hương mình, đặc biệt đối với con em các dân tộc thiểu số để các em có kiến thức sử dụng các thiết chế văn hóa ở thôn, bản của mình phục vụ nhân dân.

Ngành văn hóa cũng đã triển khai nhiều chính sách đầu tư cho việc xây dựng các thiết chế văn hóa ở nông thôn, miền núi để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa làng bản, coi trọng công tác tổ chức những hoạt động cộng đồng, chương trình văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp tại các vùng quê; bổ sung vật chất phương tiện cho các địa phương như xe thông tin tuyên truyền, loa đài, thư viện xã, thư viện thôn để nâng cao đời sống văn hóa ở nông thôn…

Và tôi tin rằng, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, của toàn xã hội, đời sống văn hóa ở nông thôn sẽ phát triển mạnh mẽ trong tương lai tạo thế cân bằng, đồng bộ trong sự phát triển chung của đất nước.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

HUY ĐĂNG (thực hiện)