Phóng viên (PV): Thưa PGS, rời Tổ quốc từ tháng 6-1911, đâu là thành tựu tiêu biểu đầu tiên đánh dấu sự thành công của người thanh niên Nguyễn Tất Thành trong hành trình tìm đường cứu nước?
PGS, TS Bùi Đình Phong: Khi tình hình đất nước “đen tối như không có đường ra”, Bác đi ra nước ngoài là để tìm “Đường cách mạng”, cứu nước, cứu dân. Ngày 18-6-1919, thay mặt Nhóm những người yêu nước An Nam, Nguyễn Tất Thành gửi tới Hội nghị Versailles bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" (ký tên Nguyễn Ái Quốc). Đây được coi là thành quả quan trọng đầu tiên với ý nghĩa như một “thông điệp ngoại giao” của dân tộc An Nam. “Yêu sách” không chỉ đòi tự do mà khi 14 điểm của Tổng thống Wilson lu mờ, Nguyễn Ái Quốc hiểu rằng “chủ nghĩa Wilson chỉ là một trò bịp lớn”; rằng “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của mình”. Thông qua diễn đàn Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp và Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc lên án tội ác của thực dân Pháp, khẳng định vai trò quan trọng của thuộc địa và phải đoàn kết vô sản ở chính quốc với thuộc địa.
Thành quả lớn nhất là sau khi đọc được "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin đăng trên báo L’Humanité số ra ngày 16 và 17-7-1920, Bác tìm được con đường cứu nước đúng đắn, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Người nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.
    |
 |
Bác Hồ ở Pháp. Tranh của họa sĩ NGUYỄN QUỐC THẮNG
|
PV: Những thành quả đó được cụ thể hóa, vận dụng thành công vào thực tiễn cách mạng Việt Nam ra sao, thưa PGS?
PGS, TS Bùi Đình Phong: Với “thanh kiếm mầu nhiệm” chủ nghĩa Lênin, Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện chính trị, ra Báo Thanh Niên những năm 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc). Đó là thời gian chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản. Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối, tổ chức và phương pháp cách mạng kéo dài mấy chục năm đầu thế kỷ 20. Sự kiện này chứng tỏ giai cấp vô sản Việt Nam đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam có Đảng lãnh đạo.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một, thực hiện chữ “đồng” theo lời Bác dạy: “Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”. Tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), Đảng thay đổi chiến lược, nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc và lập Mặt trận Việt Minh. Với quyết tâm giành cho kỳ được độc lập, mấy mươi triệu con Lạc cháu Hồng vùng lên, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, "rũ bùn đứng dậy sáng lòa", “biến người nô lệ thành người tự do”, giành chính quyền về tay nhân dân, xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế mấy ngàn năm và chế độ thực dân gần một trăm năm, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Với quyết tâm “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập”, cả dân tộc đứng lên “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. 30 năm trường kỳ gian khổ, tiến hành chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, toàn dân, toàn quân đánh cho “voi" Pháp "lòi ruột ra”, làm nên đại thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “chấn động địa cầu”. Tiếp đó là đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
PV: Thưa PGS, ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước được thể hiện như thế nào?
PGS, TS Bùi Đình Phong: Sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước cho thấy tầm nhìn, cách nhìn, bản lĩnh của Nguyễn Ái Quốc khi Người quyết định sang tận nước có bọn thực dân nô dịch dân tộc mình để tìm vũ khí chống áp bức-“sang tận hang cọp để bắt cọp”. Nhà nghiên cứu người Mỹ David Halberstam lý giải điều này khá thú vị rằng, Nguyễn Ái Quốc đã dùng tới nền văn hóa và tâm hồn của kẻ địch của ông để chống kẻ thù của ông. Người tìm thấy giá trị của điều thiện, sức mạnh đoàn kết của những người cùng khổ, của các dân tộc thuộc địa, của hạng người bị áp bức trên khắp thế giới. Người hóa giải được lời nguyền người dân thuộc địa “mãi mãi bị dùng làm đồ để tế cái ông thần tư bản; họ không sống nữa, không suy nghĩ nữa”. Người cho thấy chúng ta hoàn toàn thực hiện được “biến cái không thể thành cái có thể” với trả lời đanh thép: “Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãi. Sự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương...”. Thực tế cách mạng Việt Nam và cách mạng nhiều nước thuộc địa là minh chứng hùng hồn cho điều đó.
Sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước là sự mở đầu cho hàng loạt sự kiện có ý nghĩa và giá trị bền vững tiếp sau. Bác Hồ đã thực hiện lộ trình: Tìm đường (1911-1920), Mở đường (1921-1930), Dẫn đường (1930-1945), Thiết kế tương lai (1945-1969). Bác ra đi tìm đường cứu nước mang về cho dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa Mác-Lênin khoa học và cách mạng soi đường; nhân dân ta có Đảng lãnh đạo làm nên thắng lợi huy hoàng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước...
Những thắng lợi đó mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh rằng trong thời đại ngày nay, một dân tộc, đất không rộng, người không đông, song biết đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo đúng đắn một đảng cách mạng chân chính, dưới ngọn cờ của của Chủ nghĩa Mác-Lênin, được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế, của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, thì hoàn toàn có thể đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
PV: Cho đến nay, sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước cũng như những tư tưởng, giá trị của Người để lại bài học gì cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, thưa PGS?
PGS, TS Bùi Đình Phong: Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên mới với nhiều đổi thay mang tính thời đại. Trong nhiều điều biến đổi vẫn có những điều quan trọng không hề thay đổi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”. Sự kiện Bác Hồ đi tìm đường cứu nước cho thấy điều quan trọng hàng đầu của đất nước là xác định đường lối cứu nước đúng đắn. Đường lối đó phải xuất phát từ thực tiễn, đúng quy luật khách quan, thuận lòng dân, hợp xu thế của thời đại. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng hàm chứa trong đó việc xây dựng thể chế, văn hóa và nguồn lực con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên là “then chốt của then chốt”; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đảng cầm quyền lãnh đạo phải nắm chắc 3 trụ cột và triển khai thực hiện có hiệu quả, đó là “dân là gốc, là chủ, làm chủ”; nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, có hiệu quả, kết quả có thể cân, đo, đong, đếm được và phải lấy sự đồng tình, ủng hộ, hài lòng và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo. Nhân dân là trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới. Đó là bài học về sự gắn quyện giữa ý Đảng-lòng dân, lòng dân-ý Đảng. Nâng cao đạo đức cách mạng, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm, chính, chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Những bài học đó vẫn vẹn nguyên giá trị, mở đường đổi mới, soi sáng tương lai, trường tồn cùng dân tộc và nhân loại.
PV: Trân trọng cảm ơn PGS!
DƯƠNG THU (thực hiện)