Ổn định chính trị và các thể chế thị trường

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam được thế giới công nhận là quốc gia có độ ổn định chính trị cao và an toàn, với nền tảng pháp lý xây dựng nền kinh tế thị trường, hiện đại và hội nhập, có sự quản lý của Nhà nước ngày càng đồng bộ và vững chắc, thông thoáng, tuân thủ nghiêm túc các cam kết hội nhập, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng và sở hữu tài sản hợp pháp, tạo thuận lợi kinh doanh cao nhất cho doanh nghiệp trong các lĩnh vực mà pháp luật không cấm.

Tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ năm 2007, hiện 71 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Từ năm 2021, Việt Nam chính thức được xếp vào nhóm các nền kinh tế có "tự do trung bình" (Moderately Free), với điểm tổng thể của Việt Nam là 61,7 điểm (cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới), là nền kinh tế tự do đứng thứ 17/40 quốc gia ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và đứng thứ 90/184 nền kinh tế trên thế giới trong bảng xếp hạng Chỉ số tự do kinh tế (Index of Economic Freedom 2021) của Heritage Foundation (Mỹ). Tạp chí U.S.News & World Report xếp Việt Nam đứng thứ 8 trong tốp 20 nền kinh tế tốt nhất để đầu tư năm 2019, tăng từ vị trí 23 của năm 2018. 

Trong xếp hạng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)-cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc-Việt Nam được WIPO xếp thứ 44 về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2025, tức là nằm trong khoảng tin cậy (từ khoảng 42 đến 47) của thứ hạng này. 

leftcenterrightdel

Tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên và tòa nhà Landmark 81, biểu tượng mới của TP Hồ Chí Minh. Ảnh: TUẤN HUY

Quy mô và sức cạnh tranh kinh tế không ngừng gia tăng 

Khi mới giành được độc lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam chỉ là một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nạn đói và thiên tai kéo dài; hơn 50% ruộng đất không canh tác được. Hàng hóa khan hiếm, thị trường đình đốn. Kho bạc hoàn toàn trống rỗng. Lạm phát phi mã. Hơn 90% dân số Việt Nam không biết đọc, biết viết. Cuộc sống của nhân dân ở mức cùng khổ.

Đến năm 1946, nạn đói đã bị đẩy lùi trên cả nước. Sản lượng lương thực năm 1946 đạt 1.155.000 tấn, gấp đôi năm 1945. Tháng 11-1946, Nhà nước chính thức cho phát hành giấy bạc Cụ Hồ trên phạm vi cả nước. 

Nỗ lực đổi mới từ năm 1986 đến 2000, Việt Nam đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. 

Mức tăng trưởng GDP bình quân năm ở giai đoạn 1986-1990 đạt 4,4%; giai đoạn 1991-2000 đạt 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005 đạt 7,34%; giai đoạn 2006-2010 là 6,32%/năm. Đặc biệt, từ những năm 2020 đến nay, Việt Nam luôn thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới.

Năm 2025, Việt Nam ghi nhận nhiều mốc son đỉnh cao mới về kinh tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng đầu khu vực và liên tục 5 năm qua thuộc tốp đầu thế giới; quy mô nền kinh tế lên 514 tỷ USD năm 2025 và tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới, thứ tư trong ASEAN; GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 5.026USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; cơ cấu kinh tế và chất lượng tăng trưởng chuyển biến tích cực; lạm phát được kiểm soát dưới 4%. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Quy mô thương mại quốc tế đạt trên 930 tỷ USD, nằm trong tốp 20 của thế giới.

Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần; kinh tế tư nhân hiện đóng góp hơn 50% GDP, khoảng 90% số việc làm và 40% tổng đầu tư toàn xã hội. Năm 2025, lần đầu tiên cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam chạm mốc 1 triệu doanh nghiệp.

Kinh tế đối ngoại và vị thế quốc tế ngày càng củng cố

Việt Nam ngày càng chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng và đầy đủ, trở thành đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, hiện có quan hệ ngoại giao với tất cả các nước và quốc gia thành viên Liên hợp quốc; chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11-1-2007, Việt Nam đã có quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trong nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới...

Năm 2025, Việt Nam có kim ngạch xuất nhập khẩu trên 930 tỷ USD, với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27% và xuất siêu hàng hóa ghi dấu mốc 10 năm liên tục và đạt trên 20 tỷ USD.

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô. Độ mở nền kinh tế đứng thứ năm thế giới. Hằng năm, Việt Nam có hơn 30 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD và đứng thứ hạng cao trên thế giới.

Việt Nam liên tục là điểm đến hấp dẫn nhất trên thế giới trong dòng vốn đầu tư dịch chuyển khu vực và quốc tế nhờ ưu thế ổn định chính trị, dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng và lượng người tiêu dùng có thu nhập trung bình đang tăng nhanh, hạ tầng ngày càng phát triển đồng bộ, hiện đại... Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2021-2025 đạt 185 tỷ USD, tăng gần 9% so với giai đoạn 5 năm trước và thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới. 

Từ nước nhận đầu tư một chiều, gần đây, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng tăng nhanh, với tổng cộng hàng nghìn dự án và khoảng 20 tỷ USD vốn đăng ký và tăng thêm.

leftcenterrightdel
 Đường sắt đô thị Hà Nội tuyến Cát Linh - Hà Đông. Ảnh: HUY NGUYỄN 

Đời sống của người dân ngày càng nâng cao

Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn tất cả các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015, được Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế xếp vào nhóm 8 quốc gia đạt tiến độ thực hiện Mục tiêu MDG4 về giảm tử vong trẻ em; thuộc 9 quốc gia đạt tiến độ thực hiện về Mục tiêu MDG5 về giảm tử vong mẹ; xếp thứ 27/101 nước đang phát triển về năng lực giảm nghèo của các quốc gia (gọi tắt là CPM). Tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 10% vào cuối năm 2013, so với mức 22% năm 2006.

Bên cạnh các chỉ số về kinh tế, theo khảo sát và đánh giá của Liên hợp quốc, chỉ số về Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) của Việt Nam đã liên tục gia tăng từ vị trí 88 vào năm 2016 lên 57 vào năm 2018 và 49 vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ trên 60% thời đầu đổi mới xuống chỉ còn 1,3% theo chuẩn nghèo đa chiều của Liên hợp quốc vào năm 2025.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có bước tiến bộ cả về nhận thức, hành động và kết quả; đời sống của nhân dân được nâng lên; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động luôn dưới 3% và tuổi thọ trung bình đạt 74,7 tuổi... Chất lượng giáo dục và đào tạo tiếp tục được nâng lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ ước đạt 29,2%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên 95,2% năm 2025. 

Theo Liên hợp quốc, Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 18 bậc, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016... 

Những thành tựu đó là kết quả của quá trình Đảng thống nhất và trực tiếp lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân ta tiến hành công cuộc cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và xây dựng đất nước đầy nỗ lực, bền bỉ và kiên định; triển khai đồng bộ nhiều chính sách cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; sửa đổi các quy định pháp luật; thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng hiện đại, minh bạch, tạo sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng cho doanh nghiệp và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế; xây dựng nền dân chủ, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn, đối tác tin cậy, trách nhiệm vì mục tiêu hòa bình, hợp tác, phát triển; hướng đến con người, lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của phát triển.

Tất cả tạo nền tảng và động năng mạnh mẽ để Việt Nam vươn mình phát triển kinh tế bền vững, hướng tới trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

TS NGUYỄN MINH PHONG