Biết ơn môi trường quân ngũ
Cũng phải đến gần một năm nay tôi chưa gặp nhạc sĩ Đinh Quang Hợp, nhưng qua một số bạn bè thân thiết của ông, tôi vẫn nắm được tình hình sức khỏe của người nhạc sĩ tuổi Ất Hợi (sinh năm 1935) này. Còn nhớ mỗi lần gặp ông trong những cuộc hội ngộ với các nhạc sĩ, tôi thường thấy một người đàn ông với khuôn người mập mạp, tóc bạc trắng, đeo kính dày cộp, đôi mắt mặc dù có dị tật bên trái nhưng luôn ánh lên sự lạc quan, mộng mơ với cuộc đời. Một vài năm trước, thỉnh thoảng qua con phố Hào Nam (đoạn gần Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), tôi vẫn bắt gặp ông trên chiếc xe đạp mini màu xanh thong thả giữa dòng người.
Có được sức khỏe, sự dẻo dai và tinh thần lạc quan như vậy, đôi lần ông tiết lộ là nhờ 10 năm được rèn luyện trong môi trường quân ngũ. Là quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu trên đất nước triệu voi, ông đã sáng tác một số tác phẩm, như: “Việt-Lào Samakhi điêu căn” (Việt Lào đoàn kết cùng nhau), “Việt-Lào chiến đấu bên nhau”, “Con hùm mắt xanh”, “Noọng Hặc Xương” (Em yêu-tiếng Thái)... và lọt vào “mắt xanh” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Nếu như nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã kịp thời động viên, tạo điều kiện để ông được đi học sáng tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) thì giáo sư, nhà soạn nhạc nổi tiếng châu Âu Vladigerov đã khai mở chân trời tri thức cho ông trong việc sáng tác những tác phẩm lớn sau này.
Chẳng là trong thời gian từ năm 1969 đến 1972 tu nghiệp chương trình trên đại học tại Nhạc viện Quốc gia Sofia (Bulgaria), ông đã được Giáo sư Vladigerov trực tiếp giảng dạy. Giáo sư chính là thầy dạy nhạc sĩ Hoàng Việt để có bài tốt nghiệp xuất sắc là bản giao hưởng đầu tiên của Việt Nam mang tên “Quê hương” năm 1964. Nối tiếp tinh thần, sự vươn lên của nhạc sĩ đàn anh, nhạc sĩ Đinh Quang Hợp cũng đã có bài tốt nghiệp là bản giao hưởng 4 chương “Cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại” (“Niềm tin bất tử”, “Những phút suy tưởng”, “Vượt sóng biển và núi cao”, “Bão lửa cách mạng”) và được nhà trường chọn biểu diễn hai chương đầu.
Tiếng lòng của người con Ninh Bình
Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển (23-10-1961 / 23-10-2021), lại nhớ có lần ông từng kể về sự ra đời của “Biển sống mãi trong tôi”. Đó là tác phẩm ông lấy cảm hứng từ hội thảo của các cựu chiến binh nói về Đoàn tàu không số. Ông đã viết tác phẩm này trong suốt 26 tháng và nếu biểu diễn phải mất hai tiếng rưỡi. Khi tác phẩm vang lên, người nghe sẽ cảm nhận được "voi chiến" ở Biển Đông, các tàu chiến ngày đêm nổ máy, những chiến sĩ quả cảm chìm dần dưới biển được nhân cách hóa bằng hình ảnh đàn chim cá quẫy...
Là một trong số không nhiều nhạc sĩ trưởng thành trong kháng chiến được đi du học nên nhạc sĩ Đinh Quang Hợp luôn tâm niệm phải sáng tác được những tác phẩm lớn cũng như truyền đạt được kiến thức âm nhạc phương Tây cho sinh viên. Bản thân ông đã có nhiều tác phẩm lớn, như: Bản sonate cho piano “Nước xoáy”, bản sonate cho violin và piano “Cô gái đất dừa”, bản sonate cho piano “Khúc tùy hứng Ê Đê”, vở nhạc kịch opera “Biển sống mãi trong tôi”, 6 tác phẩm giao hưởng, 2 thanh xướng kịch là “Lửa và hoa” và “Ngàn năm nhớ về thuở ấy”.
Nếu để ý thì thấy thanh xướng kịch “Ngàn năm nhớ về thuở ấy” và giao hưởng thơ “Chiếu dời đô” được Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước thông qua để xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT đợt này đều là những tác phẩm thể hiện trách nhiệm, nỗi lòng của nhạc sĩ Đinh Quang Hợp với đất mẹ Ninh Bình. Trong đó, “Ngàn năm nhớ về thuở ấy” là tác phẩm đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (nay là Sở Văn hóa và Thể thao) tỉnh Ninh Bình và Hệ Âm nhạc-Thông tin-Giải trí (nay là Ban Âm nhạc), Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp dàn dựng năm 2010 với sự góp mặt của hơn 100 nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhạc công. Sự kiện ấy có thể coi là chương trình nghệ thuật với quy mô lớn nhất tại mảnh đất cố đô.
Một điều thú vị là khi ở Ninh Bình công diễn vở thanh xướng kịch “Ngàn năm nhớ về thuở ấy” (gồm 5 chương: “Mục đồng hát đồng dao”, “Hồn thơ thánh thiện”, “Đêm rằm trên sân chầu”, “Hào khí hoàng cung” và “Ngày hội về Đại La-Thăng Long”) thì ở Hà Nội lại công diễn vở thanh xướng kịch “Hoa Lư-Thăng Long: Bài ca dời đô” (gồm 4 chương: “Lý Thái Tổ xuống Chiếu dời đô”, “Dời bến Ghềnh Tháp”, “Ngược dòng sông Hồng” và “Cập bến Đại La”) của người con Hà Nội-Đại tá, nhạc sĩ Doãn Nho. Hai tác phẩm đều cùng một thể loại, đều hướng đến một sự kiện nhưng được viết dưới góc nhìn, tâm thế khác nhau, thể hiện nỗi niềm, sự tự hào của hai người con ở “điểm đi” và “điểm đến” của kinh đô.
Sống là cho đi
Do điều kiện phổ biến khí nhạc ở Việt Nam còn hạn chế nên nhiều người thường biết đến nhạc sĩ Đinh Quang Hợp là tác giả của ca khúc “Tiếng hát sông Lam”. Ca khúc nằm trong cụm tác phẩm đưa ông đến với Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012 (gồm thanh xướng kịch “Lửa và hoa” và hai ca khúc “Tiếng hát sông Lam”, “Nhịp cầu sông Mã”). Riêng ca khúc “Tiếng hát sông Lam” đã đứng vững trong lòng người nghe suốt hơn nửa thế kỷ qua, thậm chí nhiều người còn gọi là “tỉnh ca” của Nghệ An. Điều vinh dự là vào năm 1968, trong buổi tiệc chiêu đãi khách quốc tế, khi nghe ca sĩ Tường Vy hát ca khúc này, Bác Hồ đã vui mừng giới thiệu: “Đây là quê hương tôi”. Bác còn giải thích tỉ mỉ cho mọi người biết tiếng Nghệ An gọi là “nác” chứ không phải “nước”, tác giả viết “nước” là cho phổ thông, dễ gần.
Những tưởng các tác phẩm nhắc đến ở trên đã là cả sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Đinh Quang Hợp, nhưng không... từ khi về hưu, ông vẫn sáng tác ca khúc như cơm ăn nước uống hằng ngày. Còn nhớ mùa thu năm 2017, tôi vô cùng bất ngờ khi được ông mời đến Nhà hát Lớn Hà Nội để xem Chương trình nghệ thuật “Hương sắc tình yêu” tôn vinh những cống hiến của ông cùng các nhạc sĩ khác cho nền âm nhạc nước nhà. Ở đó, tôi không hề thấy những tác phẩm quen thuộc mà thay vào đó là 17 ca khúc trẻ trung, sôi động, thể hiện khát khao về tình yêu đôi lứa nồng cháy, như: “Anh về quê em”, “Mong anh đến nhà”, “Ký ức tình đầu”, “Mùa xuân đợi anh”, “Tìm em trong câu hát”, “Gửi anh câu hát chiều nay”, “Nỗi nhớ”, “Ngàn năm người ơi”... Ngồi trong khán phòng, tôi cứ mông lung nghĩ “sợi dây” nào đã kết nối và đồng điệu tâm hồn của người nhạc sĩ trạc tuổi bát tuần với những ca sĩ trẻ, như: Đinh Trang, Hoàng Hồng Ngọc, Thùy Trang... đang cháy hết mình trên sân khấu?
Biết nhạc sĩ Đinh Quang Hợp sáng tác tình ca, tôi mạnh dạn hỏi ông có bài hát nào dành tặng vợ? Ông cười hồn hậu rồi đọc câu thơ của “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu: “Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu”. Tức là ông chưa có sáng tác nào nhưng tôi cảm nhận mỗi khi nhắc đến người bạn đời, đôi mắt ông rực sáng, lấp lánh niềm tự hào. Gần nửa thế kỷ trước, khi ưng ý cô gái Hà thành ấy, chàng trai cố đô đã không ngần ngại mời nàng đi xem ca nhạc rồi tỏ tình: “Anh hơn em 10 tuổi, không biết là em có tìm thấy ở nhạc sĩ cái gì hay hay không?”. Ông đã nhận được câu trả lời không thể hạnh phúc hơn: “Nếu không hay thì em không ngồi nói chuyện thế này” và điều quan trọng là đến hôm nay, họ vẫn còn rất mặn nồng khi gọi nhau là anh-em ngọt ngào.
Ngẫm nghĩ về nhạc sĩ Đinh Quang Hợp trong đêm thu, tôi càng chiêm nghiệm về lời đúc kết của ông: “Tác phẩm lớn là vợ, ca khúc là người tình” và câu thơ “đối” của nhạc sĩ Đoàn Bổng: “Tác phẩm lớn là vợ/ Ca khúc là người tình/ Đinh Quang Hợp rất tinh/ Chọn người tình làm vợ”. Công bằng mà nói, ông đã có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ với những tác phẩm lớn được ghi nhận, còn hương sắc tình yêu trong ca khúc của ông có thể chỉ là nụ cười, ánh mắt của cô gái nào đó mà ông vô tình gặp trên đường đời tấp nập.
NGÔ KHIÊM