Chị Ngọc Anh cho biết: “Voi ngà “Thiếu úy” rất nổi tiếng bởi những đóng góp to lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cả trong lao động sản xuất ở Quảng Bình. Chỉ tiếc là hồ sơ gốc về nó không còn được lưu giữ đầy đủ do nhiều nguyên nhân. Cả những thông tin mà chúng tôi thu thập được từ bức ảnh tác giả Đình Lượng chụp vào năm 1974 cũng có thể là chưa đầy đủ và chính xác”.

Từ cây số 33, Đường 10, chúng tôi ngược Đường Hồ Chí Minh nhánh Tây vào làng Ho, xã Kim Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình), bắt đầu hành trình tìm hiểu về voi ngà “Thiếu úy”. Làng Hó trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ nay gọi là làng Ho, được Đoàn 559 chọn đặt sở chỉ huy tiền phương vào tháng 10-1959. Tiếp chúng tôi có già làng Hồ Vượng và ông em Hồ Vai. Già làng Hồ Vượng bấm đốt ngón tay khi chúng tôi hỏi tuổi: “Được 98 mùa rẫy rồi, sức khỏe không còn được như xưa nữa mô. Ngày xưa gùi cả tạ hàng, đạp rừng đi băng băng mà không mệt đâu nhé”.

leftcenterrightdel
Bức ảnh voi ngà "Thiếu úy" do tác giả Đình Lượng chụp năm 1974, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Quảng Bình

Cái thuở gùi cả tạ hàng không mệt mà ông kể đó là những năm 1959-1964, khi Tiểu đoàn 301, Đoàn 559 bí mật mở đường giao liên vận tải Trường Sơn. Cùng với cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 301, đồng bào Vân Kiều, trong đó có ông Hồ Vượng cũng tình nguyện tham gia lực lượng dân công làm nhiệm vụ vận tải lương thực, vũ khí. Phương thức vận chuyển chủ yếu là mang vác, gùi thồ, dùng xe đạp hoặc sức ngựa và voi. Theo già làng Hồ Vượng, voi ngà “Thiếu úy” có tên gọi là Bạc Nòi, nó đến với làng Ho từ cuối năm 1959. Vì sao Bạc Nòi vẫn được gọi với một cái tên khác là voi “Thiếu úy”? Ông bảo chỉ nghe các đồng chí bộ đội trả lời: “Vì trước đó, Bạc Nòi từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, lập được nhiều chiến công xuất sắc nên được “phong quân hàm Thiếu úy”.

Ngoài tên gọi Bạc Nòi, voi ngà “Thiếu úy” còn được người Bru-Vân Kiều ở làng Ho gọi bằng một tên khác: Bạc Khun. “Bà con gọi nó là Bạc Khun là vì nó rất khun (khôn), thông minh”, ông Hồ Vai tiếp lời. Ông cho biết, hồi đó, ông 15 tuổi, vẫn thường thấy Bạc Nòi chở cả một “núi” hàng trên lưng, qua lại ngay trên con đường mòn chạy qua bản. “Nó to lắm! Lần đầu nhìn thấy, ai cũng sợ không dám lại gần, nhưng tiếp xúc nhiều thì thấy hiền khô. Có lần nó đứng ngang đường, chắn hết lối đi. Miềng lại gần, nói: “Bạc Khun cho bà con đi với”, rứa là nó ép sát vào bụi để mọi người qua”.

Bạc Nòi đã sống, làm việc, gắn bó với người Vân Kiều ở làng Ho qua ký ức của già làng Hồ Vượng, ông Hồ Vai và cả lớp người thuộc thế hệ con cháu của họ qua những câu chuyện kể như thế.

Năm 1967, khi phương thức vận chuyển thô sơ không còn nhiều hiệu quả, Bạc Nòi được chuyển giao về Lâm trường Ba Rền để tiếp tục thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, như: Khai thác gỗ phục vụ sản xuất, làm cầu, mở đường chiến đấu... Chúng tôi tìm về xã Vĩnh Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tìm gặp ông Nguyễn Văn Lộc là cán bộ công tác ở Lâm trường Ba Rền trong những năm 1965-1971. Ông Lộc làm quản tượng của Bạc Nòi. Ông Lộc kể: “Suốt 4 năm quản nó, tôi chưa bao giờ dùng búa, bởi Bạc Nòi rất hiền lành và dễ mến. Nó như đọc được suy nghĩ của tôi, hiểu quản tượng cần nó làm gì chỉ qua ánh mắt”. Đầu năm 1971, ông Nguyễn Văn Lộc chuyển công tác, Bạc Nòi lần lượt qua tay một số quản tượng khác. Năm 1973, ông Trương Đình Đá là người được giao nhiệm vụ quản Bạc Nòi cho đến lúc nó mất vào đầu năm 1982.

Nhà ông Trương Đình Đá nằm cạnh Đường 11, ngay địa phận Lâm trường Ba Rền. 9 năm trực tiếp quản Bạc Nòi, sống cùng nó, làm bạn với nó, với ông có quá nhiều kỷ niệm buồn, vui. Cũng giống như những nhân vật mà chúng tôi đã gặp, ông Đá luôn dùng những cụm từ “thông minh”, “hiền lành”, “dễ gần”… trong từng câu chuyện kể. Về công việc, ông khẳng định, nó có thể kéo được cây gỗ khoảng 10m3 đi trên mọi địa hình. Mỗi lần hạ cây to, Bạc Nòi luôn lựa thế, dùng hai chân sau làm trụ, hai chân trước gập lên sát cổ kết hợp với cặp ngà dài, từ từ cho cây đổ xuống, tránh làm gãy những cây nhỏ xung quanh.

Một buổi trưa, trời lất phất mưa bay, ông Trương Đình Đá cùng vài người bạn cùng thời ở lâm trường dẫn chúng tôi vào một khoảng đất cạnh con suối ngay dưới ngầm Cờ Đỏ. Chỗ đó cách nhà ông Đá khoảng 1km đường chim bay. Đây chính là nơi mà gần 40 năm trước, Bạc Nòi nằm lại. Các ông sửa soạn hương, hoa, gạo, đường thành tâm hương khói cầu nguyện cho Bạc Nòi như với một người bạn thân thiết.

Chia tay những cán bộ lâm trường từng gắn bó với Bạc Nòi, chúng tôi thầm cảm ơn họ và cả những người dân Vân Kiều ở cụm bản làng Ho như già làng Hồ Vượng, ông Hồ Vai. Bởi nhờ họ mà những câu chuyện về Bạc Nòi như sinh động hơn, lấp lánh hơn. Bạc Nòi có được phong quân hàm “Thiếu úy”, có được tặng thưởng huân chương hay không? Có lẽ điều đó không còn quá quan trọng. Bởi những câu chuyện thấm đẫm tình người về một con voi và cả những chiến công, thành tích của nó giờ đây còn sống động, tươi rói trong lòng người, dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.

MINH TÚ