Đây là nội dung không dễ thực hiện nếu không có những đột phá mạnh mẽ và xây dựng nền tảng KHCN vững chắc. Việc xây dựng nền tảng KHCN của một quốc gia không chỉ bắt đầu từ chủ trương, đường lối của Đảng, các quyết sách, thể chế của Chính phủ, giáo dục-nghiên cứu, hạ tầng, hệ sinh thái đổi mới mà quan trọng hơn, đó là văn hóa khoa học. Nói một cách đơn giản thì đó chính là xây dựng tình yêu với KHCN.
Người phương Tây có câu ngạn ngữ phổ biến để nói về một cá nhân hay tập thể dành hết tâm sức, thời gian làm những công việc khó: "What comes from the heart goes to the heart". Dịch ra tiếng Việt, câu ấy có nghĩa là: “Cái gì xuất phát từ trái tim sẽ đi đến trái tim”. Khi nói về khoa học, một lĩnh vực khó trong đời sống cũng vậy, nếu không dành cho KHCN tình yêu thì khó lòng có kết quả tốt và rộng hơn là sự phát triển kinh tế-xã hội và văn hóa. Đây là điểm mà hiện nay Việt Nam đang thiếu.
    |
 |
Nuôi dưỡng tình yêu khoa học - công nghệ. Minh họa: QUANG CƯỜNG
|
Vào tuần đầu của năm mới 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam với nhiều chủ trương mới, trong đó có nội dung: Phát triển KHCN, ĐMST, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa.
Vậy ở đây, KHCN có liên quan đến văn hóa không? Xin trả lời ngay rằng liên quan rất chặt chẽ. Văn hóa là nền móng để thúc đẩy KHCN phát triển và ngược lại, KHCN là điểm tựa để văn hóa rực rỡ hơn. Nhưng muốn có được điều đó thì trước hết chúng ta phải nuôi dưỡng tình yêu với KHCN.
Thực tế cho thấy, nhiều người vẫn thường tách rời KHCN và văn hóa thành hai thái cực, một bên là lý tính, thực dụng; một bên là cảm tính, tâm hồn. Nhưng nhìn sâu vào đời sống, ta thấy KHCN chính là biểu hiện cao nhất của văn hóa. Một dân tộc yêu khoa học là một dân tộc có văn hóa tôn trọng sự thật, thượng tôn trí tuệ và khao khát cải thiện đời sống. Ngược lại, văn hóa là nền móng để thúc đẩy KHCN phát triển bền vững. Nếu KHCN thiếu đi cái "gốc" văn hóa, nó có thể trở thành công cụ hủy hoại. Nếu văn hóa thiếu đi "đôi cánh" KHCN, nó sẽ mãi đứng yên trong những hào quang quá khứ mà không thể phát triển và lan tỏa.
Lịch sử khoa học có một điều rất thú vị là nhiều phát minh hữu ích không ra đời trong phòng họp hay viện nghiên cứu lớn, mà từ trí tò mò rất “trẻ con”. Louis Braille (Pháp) bị mù từ nhỏ, nhưng năm 15 tuổi đã hoàn thiện hệ thống chữ nổi gồm 6 chấm, giúp người khiếm thị đọc và viết bằng xúc giác. Đến nay, chữ Braille vẫn là “chìa khóa tri thức” cho hàng triệu người mù trên toàn thế giới. Đây là minh chứng sớm nhất cho việc khoa học bắt đầu từ nhu cầu rất con người.
Năm 15 tuổi, Jack Andraka (Mỹ) đã phát minh ra phương pháp xét nghiệm ung thư tuyến tụy rẻ hơn, nhanh hơn và chính xác hơn hàng trăm lần so với kỹ thuật truyền thống. Động lực của cậu rất giản dị: Một người thân qua đời vì ung thư và Jack không chấp nhận câu trả lời “không thể phát hiện sớm”.
Khi mới 15-16 tuổi, Ann Makosinski (Canada) đã chế tạo chiếc đèn không cần pin, hoạt động nhờ nhiệt lượng cơ thể con người xuất phát từ việc cô bạn ở Philippines không có điện để học bài vào ban đêm. Phát minh này cho thấy khoa học có thể bắt đầu từ lòng trắc ẩn.
Ở Việt Nam, chúng ta không thiếu những tài năng. Từ các cuộc thi ISEF đến Olympic quốc tế, học sinh Việt Nam đều giành được các giải cao.
Qua đọc các thông tin nhận thấy, nhiều em vì tò mò, vì tình yêu với KHCN mà sáng tạo nên những sản phẩm hữu ích. Ví như trường hợp Trần Quốc Khánh (TP Hồ Chí Minh) đã chế tạo thiết bị hỗ trợ người khiếm thị nhận biết vật cản bằng sóng siêu âm khi còn là học sinh THCS. Sản phẩm xuất phát từ việc em chứng kiến người khiếm thị gặp khó khăn khi di chuyển trên đường phố đông đúc. Thiết bị đơn giản, chi phí thấp nhưng mang tính nhân văn rõ rệt, từng đoạt giải cao trong các cuộc thi sáng tạo trẻ. Em Nguyễn Bá Cảnh và nhóm học sinh ở Quảng Trị đã chế tạo máy lọc nước đơn giản từ vật liệu rẻ tiền, phục vụ cuộc sống người dân vùng nông thôn, vùng khó khăn. Đây là kiểu phát minh rất thực tế, sinh ra từ đời sống và quay lại phục vụ đời sống.
Tuy nhiên, khi nhìn sâu vào thực tế, chúng ta thấy có những bất cập. Những phát minh ấy thường "chết" ngay sau khi lễ trao giải kết thúc. Các em có tình yêu, nhưng xã hội chưa có đủ "đất" để tình yêu đó kết trái. Chúng ta đang biến các cuộc thi khoa học thành một dạng "phong trào thi đua", lấy thành tích làm mục tiêu thay vì lấy ứng dụng làm tôn chỉ. Khi các em lớn lên, dưới áp lực cơm áo gạo tiền và một thị trường ưa chuộng thương mại nhanh, những "gene khoa học" ấy dần ngủ quên hoặc bị cuốn vào những vòng xoáy khác.
Đáng buồn hơn trong thời đại số, con người dường như đang trở nên "lười biếng" trong tư duy khoa học. Chúng ta sử dụng smartphone, lái xe điện, ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) hằng ngày nhưng rất ít người tự hỏi: "Nó hoạt động như thế nào?". Chúng ta trở thành những người tiêu dùng thuần túy, phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ.
Có cảm tưởng như tình yêu với KHCN trong mỗi người Việt Nam đang bị nghèo đi, nhất là ở thời đại công nghệ số đi với tốc độ nhanh không tưởng. Bởi trong thời đại số, thời đại của sản xuất hàng hóa, nhu cầu của con người được đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn, dễ dàng hơn nên người ta không còn quá bận tâm với những câu hỏi tại sao để tìm tòi, nghiên cứu, chế tạo và cho ra đời các công cụ lao động, các sản phẩm mới, mà thay vào đó là sử dụng những sản phẩm từ các nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Điều đáng buồn nữa là những dụng cụ, sản phẩm mới ấy lại đến từ nước ngoài, đến từ các quốc gia có KHCN sản xuất phát triển.
Để thực hiện chủ trương phát triển KHCN, ĐMST, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa, cần phải làm cho tình yêu KHCN lan tỏa rộng rãi.
Tôi cho rằng, cần đưa khoa học ra không gian công cộng đời thường. Bởi khi khoa học trở thành lời chú thích cho cảnh vật quen thuộc thì nó sẽ không còn là môn học khô khan mà là lăng kính để nhìn xã hội.
Tiếp đó, mỗi gia đình cần hình thành thói quen khoa học gia đình. Mỗi tuần một thí nghiệm bếp núc, một lần cùng con tra cứu “vì sao ta thường ngửi thấy mùi đất khi trời mưa”, một cuộc tranh luận nhỏ dựa trên bằng chứng thay vì cảm tính. Tình yêu với KHCN sẽ trở thành văn hóa qua những thói quen lặp đi lặp lại về các vấn đề trong bữa cơm và phòng khách của mỗi gia đình như thế.
Trong giáo dục, các nhà trường nên tạo đường băng cho người kể chuyện khoa học. Không phải ai cũng là nhà nghiên cứu, nhưng rất nhiều người có khả năng kể khoa học bằng ngôn ngữ đời sống: Giáo viên, kỹ sư, bác sĩ, nông dân công nghệ cao. Hỗ trợ họ về kỹ năng truyền thông, bản quyền, tài chính nhỏ ban đầu sẽ tạo ra một hệ sinh thái nội dung đáng tin cậy, thay thế dần “mẹo vặt” và ngộ nhận lan truyền trên mạng.
Ở phạm vi rộng hơn, cần gắn khoa học với vấn đề địa phương cụ thể. Ô nhiễm không khí, ngập úng, xói lở, an toàn thực phẩm... Mỗi địa phương có thể có một “bài toán khoa học mở”, nơi học sinh, người dân, chuyên gia cùng thu thập dữ liệu, thử nghiệm giải pháp. Khi khoa học giải quyết nỗi lo trước mắt, niềm tin sẽ đến rất nhanh. Đó là mảnh đất màu mỡ nhất cho “gene khoa học” phát triển.
Khoa học, suy cho cùng, không chỉ là phòng thí nghiệm, là công thức hay thiết bị đắt tiền. Khoa học trước hết là cách con người đối diện với thế giới bằng sự tò mò, tỉnh táo và trung thực. Đó là thói quen đặt câu hỏi “vì sao”, là dũng khí kiểm chứng thay vì tin theo cảm tính, là tinh thần chấp nhận sai để đi gần hơn tới sự thật.
Nếu phát minh chỉ dừng ở cuộc thi, nếu sản phẩm không được thử nghiệm tiếp, không được đặt hàng, không được cải tiến, thì “gene khoa học” ấy rất dễ ngủ quên. Ngược lại, nếu xã hội biết nâng niu trí tò mò non trẻ, khoa học Việt Nam sẽ không thiếu người kế tục.
Khi một xã hội chỉ biết hưởng thụ công nghệ mà không có khao khát làm chủ công nghệ, xã hội đó đang tự đặt mình vào thế yếu trong cuộc đua toàn cầu. Và khi chúng ta không có sản phẩm khoa học xuất phát từ trái tim thì chắc chắn sẽ chẳng thể đi đến trái tim cộng đồng, xã hội.
MẠNH THẮNG