Ở Na Hang, giữa vùng lòng hồ thủy điện bây giờ, vẫn còn một cọc đá nhô lên trên mặt nước mênh mông biếc xanh. Người địa phương gọi đó là cọc vài, tức là cái cọc buộc trâu của… nhà Trời. Nó vốn là một cái cọc cao hàng trăm mét, dựng đứng, tròn trĩnh một cách ngạc nhiên, nằm tách biệt hẳn ra khỏi những dãy núi tai mèo dựng đứng xếp hàng hàng lớp lớp tứ phía. Khi nước hồ thủy điện dâng, nó chỉ còn nhô trên mặt nước khoảng hai chục mét. Dù vậy, cọc vài vẫn là một thứ “kỳ quan”. Nó càng trở nên “kỳ quan” hơn khi mà nước dâng lên, khiến nó càng lùi xa hơn những ngọn núi phía bờ. Khoảng cách giữa nó với bờ đủ rộng để những con thuyền đi vòng xung quanh, tha hồ cho người ta trầm trồ ngắm nghía.

Tôi đã từng nghĩ rằng, nếu có thể được nuối tiếc về một điều gì đó, thì có lẽ tôi sẽ nuối tiếc nhất việc mình không thể nào vẽ lại nổi vẻ đẹp của những khoảnh khắc đời sống mà mình đi qua. Vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người, thậm chí của cả linh hồn trong cái quan niệm vạn vật hữu linh của rất nhiều tộc người trên đất nước này.

Từ lòng hồ, chúng tôi đi ngược lên núi. Những vạt núi xếp tầng tầng lớp lớp như thể nếu leo hết lên những tầng lớp núi non mịt mờ sương phủ ấy thì sẽ lên đến… cửa trời. Một xóm người Dao hiện ra, bên trái và bên phải con đường dốc ngoằn ngoèo như đường đi của một con giun, vẽ trên vách núi. Để đi vào xóm, thì hoặc phải leo núi bên tay trái, hoặc phải xuống núi bên tay phải.

leftcenterrightdel
Minh họa: PHẠM TIẾN

Đi bằng… chân theo một con đường mòn mới mở, đất đỏ còn toang hoang, ngược lên núi chừng vài chục phút, chúng tôi lạc vào một rừng lê. Tôi phải nói là lạc vào bởi vì nó giống như một giấc mơ. Những cây lê nằm rải rác trên triền núi. Dưới chân chúng cỏ lên xanh như không hề có vết chân người và lởm chởm những tảng đá hàng triệu năm trồi lên trên mặt đất. Có lẽ vì chúng quá lớn, quá nặng, nên người ta chẳng hơi sức đâu mà vần chúng ra khỏi nương. Chúng cứ nằm chình ình ở đấy, xám xám đen đen, vừa ngang ngược bướng bỉnh, vừa im lìm khiêm nhường, mặc kệ những bông lê từng lúc từng lúc lại lả tả rơi.

Đối diện với vườn lê, bên kia đường mòn, là nương cải. Cải cuối mùa đang tàn dần, nhường cho những cành đầy quả thuôn dài, nhỏ tí xíu mỗi lúc một đẫy đà. Mùa xuân ở miền núi đến muộn nên cho dù đã sang tận tháng ba rồi, thanh âm, sắc màu, mùi vị, sự quyến rũ của nó vẫn đang phảng phất khắp những triền núi, những nếp nhà. Tôi băng qua bờ rào xếp đá, len lỏi qua những luống cải và xuống một bờ ao lưng chừng đồi. Một cái ao nhỏ, chỉ bằng vài manh chiếu. Kỳ lạ là nó nằm giữa lưng chừng đồi. Nó hứng nước từ một chiếc máng vầu, mạch nước ngầm, xuyên dưới lòng đường. Nước trong veo như “ao thu lạnh lẽo”. Vài cái cây gầy guộc, trơ trọi không sót một tấm lá nào đứng chơ vơ soi bóng xuống mặt nước. Một đàn ngỗng với ngỗng bố, ngỗng mẹ và ba ngỗng con đang cố lôi nhau ra khỏi một cái rãnh nước đầy những cây thài lài mọc rậm rạp. Tiếng ngỗng kêu kiu kíu kiu kíu vừa hoảng hốt âu lo, vừa tha thiết thương mến.

Xóm làng yên tĩnh. Tuyệt đối yên tĩnh. Dường như có thể nghe thấy cả tiếng những bông lê đang rơi sau lưng. Đây là vùng Dao Tiền. Con gái Dao Tiền mặc trang phục tự dệt, tự may, giản dị, kín đáo. Thân áo dài, xẻ tà và có nẹp nhỏ thêu hoa văn, khuy áo được làm bằng những đồng bạc chạm trổ rất công phu móc lại với nhau thành hình chéo. Tay áo được khâu theo dạng tay ống và thêu nẹp bằng hoa văn. Ngoài áo có dây lưng được dệt bằng sợi bông quấn sát vòng eo. Mấy cô gái Dao đưa chúng tôi lên thăm vườn lê đều mặc giống nhau một loại trang phục, chỉ khác mỗi… giày đi dưới chân. Cô thì đi giày da, cô lại đi giày thể thao. Thấy tôi cứ chăm chú nhìn đôi giày, một cô cười khẽ thành tiếng: Đi thế này cho tiện chị ạ. Đúng rồi, cái cuộc sống cuồn cuộn vận động này còn bắt các cô phải ngồi lên xe máy phóng vèo vèo xuống huyện nhận công văn cơ mà. Nhưng dù gì, những nụ cười ấy, ánh mắt ấy, và giọng nói với thanh âm rất khó lẫn của người miền núi, của người Dao nói tiếng Kinh vẫn còn nguyên vẹn một vẻ tinh khôi đáng mến.

Người Dao tự gọi mình là Kiềm miền hay Kìm mùn đều có nghĩa là người sinh sống ở rừng. Theo tiếng Dao, Kiềm, Kìm là rừng; miền, mùn là người. Ngoài tên Kiềm miền, Kìm mùn người Dao còn có tên Dìu miền phát âm theo Hán-Việt là Dao nhân tức là người Dao. Tên Dìu miền được nhắc đến trong các câu chuyện truyền miệng hoặc trong các tài liệu cổ của người Dao. Dao, vì thế là tên tự nhận của người Dao, nó gắn liền với lịch sử hình thành dân tộc Dao.

Tôi lang thang giữa những ngôi nhà lợp ngói âm dương đã cũ mèm theo thời gian, và hình dung một năm nào đấy thời dã sử đã mở ra cánh cửa cho người Dao hiện diện trong nhân loại bảy tỷ người. Nhờ giời, những tấm lợp công nghiệp chưa lên đến đây và người ta vẫn cứ đang sống trong những ngôi nhà lợp ngói truyền thống tuyệt đẹp. Hầu như những ngôi nhà trong xóm đều chỉ có thể đi vào, đi ra bằng những lối mòn, nhỏ tí, vừa đặt đủ bước chân, và ngoằn ngoèo như lối giun bò. Sở dĩ nó ngoằn ngoèo là bởi người ta phải tránh những tảng đá lớn lù lù giữa lối đi. Với cái lối đi ấy, xe máy hay xe đạp đều chịu thua. Vậy là, bao nhiêu thế hệ sinh ra, lớn lên, chết đi ở đây, cho đến tận hôm nay vẫn sống bằng cái lối sống cũ. Sóng điện thoại rất yếu, ti vi nhà có nhà không, tự cung tự cấp với một ít sản phẩm thành hàng hóa hiếm hoi… Không biết bản địa có thấy thiếu thốn không, nhưng những người từ thành phố đi lên, ai cũng bần thần ngỡ ngàng ao ước ham muốn cái nhịp sống bình yên như cổ tích, như là kéo lùi thời gian của nhân loại trở lại vài thập kỷ trước của họ.

Phía sau lưng tôi, trên cao kia, bên cạnh những gốc chè shan hàng trăm năm tuổi, những cây lê vẫn đang nở bung đầy cành. Người ta nói, năm nay, năm tới, sẽ mở rộng diện tích trồng lê. Cây lê sẽ là cây kinh tế của vùng đất này. Nó sẽ nở hoa để đón khách du lịch và cho quả vào mùa hè để làm hàng hóa. Tôi không biết nên háo hức hay nên âu lo trước điều ấy. Bài học về việc phát triển du lịch giống như những cơn bão quét qua các vùng đất vốn dĩ hoang sơ tuyệt đẹp, khiến chúng trở thành những cái chợ tan hoang hổ lốn cho đến nay không phải là điều gì mới mẻ nữa. Thiên nhiên chỉ thực sự đẹp khi nó được bảo vệ, được tận dụng một cách tiết chế, thông minh và bền vững. Hy vọng là những lần sau trở lại, những mái ngói của đồng bào sẽ còn nguyên vẹn với làn khói xanh lam mơ màng thơm mùi cơm mới.

Bút ký của ĐỖ BÍCH THÚY