Ai là người Việt Nam cũng biết đến bài ca dao: Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Đây là một trong những bài ca hay và cảm động nhất về sự vất vả, lam lũ của người nông dân để giáo dục đạo lý biết ơn thật thấm thía, sâu sắc. Cày đồng là công việc nặng nhọc, lại cày giữa “ban trưa” thì càng mệt hơn. Hai chữ “thánh thót” ở câu thứ hai là từ loại lưỡng tính, vừa tượng hình vừa tượng thanh, diễn tả tuyệt vời hình ảnh những giọt mồ hôi rơi xuống luống cày dày và nặng như có thể nghe thấy tiếng. Bài ca dao kết cấu theo đặc trưng thơ Đường, nửa trên tả cảnh, nửa dưới tả tình. Hai câu sau nói với mọi người (Ai ơi): Người nông dân vất vả thế, phải nhớ ơn họ! “Bát cơm đầy” không còn là hình ảnh thông thường nữa mà trở thành biểu tượng văn hóa chỉ thành quả lao động kết tinh từ những nỗi nhọc nhằn. Câu cuối là một triết lý phổ quát: Bất cứ thành quả nào (dẻo thơm một hạt) cũng phải trả bằng sự khổ công lao động (đắng cay muôn phần). Triết học là sự khám phá đến tận cùng những mâu thuẫn của các mặt đối lập để tìm ra cái “hạt nhân hợp lý”, thì triết học là ở đấy. Chiều sâu triết lý là ở đấy. Ai bảo bản sắc Việt ít có màu sắc triết học?!

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

Ai đã từng trải qua những trận đói được đôi lần mẹ xới cho bát cơm đầy, ai đã từng lạc rừng hàng tuần rồi gặp được người mế nắm cho vắt xôi tròn mới thấy rằng đấy không còn là cơm, là xôi nữa. Đấy là tình nghĩa, đấy là lịch sử, đấy là văn hóa để rồi trở thành tài sản tinh thần vô giá nuôi dưỡng tâm hồn con người không bị già héo đi theo thời gian.

“Bát cơm đầy” là một mã cơ bản của văn hóa Việt!

Ngày trước cúng ông bà tổ tiên, nghèo quá, không có cỗ như bây giờ, chỉ cúng bằng bát cơm, quả trứng, một chén nước mưa lòng thành!

Ngày trước lễ tiễn biệt người đã khuất về với tổ tiên cũng rất giản dị chứ không “hoành tráng” như bây giờ. Nhưng dù giản dị thì trên cỗ quan bằng gỗ mộc luôn có đèn nến và bát cơm, quả trứng cùng đôi đũa được vót xơ thành tua rua ở đầu rồi cắm vào bát cơm. Cũng chẳng ai biết làm thế để làm gì, chỉ biết đó là lệ tục và đấy là “cúng cơm”. Khi còn sống thì ngày nào cũng ăn cơm bằng đũa, “cơm ba bát, áo ba manh, rét không sợ xanh, ốm không sợ chết” nên khi chết không ăn nữa thì phải cúng để linh hồn có cái ăn... Mãi sau thanh niên lớn lên, học hỏi nhiều, mới về giải thích rất “triết học” rằng: Bát cơm đầy là biểu tượng đất mẹ (âm); đôi đũa là biểu tượng phái sinh từ “cây vũ trụ” (trụ trời trong thần thoại cũng là một hình thức của “cây vũ trụ”) nối đất mẹ với trời (dương) mà “tua rua” (như mây) làm biểu trưng. Quả trứng biểu hiện cho sự sống. Có cụ đồ Nho “vặc” lại: Ngày xưa quan niệm trời tròn đất vuông, bát cơm tròn đầy thế sao lại biểu tượng cho đất được! Nhà triết học trẻ kia “cứng họng”. Rồi cụ mới thong thả mà giải thích rất “Nho học” rằng: Cái mớ tua rua ở đầu đũa kia là biểu tượng cho sự hỗn mang, hỗn độn; bát cơm là biểu trưng của “thái cực” sinh “lưỡng nghi” là đôi đũa. “Lưỡng nghi sinh tứ tượng” tức sinh ra sự sống thì phải có quả trứng làm biểu trưng... Cơ hồ có một cuộc tranh luận căng, thì một thầy giáo già về hưu mới khái quát cũng rất “triết” rằng: À thì ra quan niệm nào cũng có lý riêng, nhưng đều tập trung vào khát vọng mong mỏi của người sống muốn người chết sớm được đầu thai trở lại...

Sống trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước thì những biểu tượng về lúa gạo, về cơm tất nhiên là cực phong phú!

Truyền thuyết nhiều dân tộc kể rằng, ngày xưa, con người sống rất lam lũ khổ cực mà không có cái ăn là cơm như sau này. Họ chỉ ăn rau rừng, quả dại và sống lang thang hết vùng này đến vùng nọ. Nhưng người ngày một đông, thức ăn ngày một hiếm. Có hai vợ chồng trẻ quyết dắt nhau vào rừng sinh sống. Hằng ngày, vợ lên núi kiếm rau, tìm quả dại, chồng đặt bẫy bắt chim. Theo đường bay của chim, người chồng lạc đến một vùng nọ có cây kết hạt màu vàng. Chim ăn hạt ấy nên con nào con nấy béo tròn, thịt lại thơm ngon. Thấy vậy, họ hái những hạt ấy về ăn thử rồi mang về nương gần nhà trồng... Họ còn mách bảo nhiều người khác. Thế là cây lúa ra đời...

Truyền thuyết người Kinh kể, ngày xưa, có người góa phụ nghèo ở vậy nuôi đứa con trai duy nhất. Được cưng chiều nên cậu con sinh ra hư hỏng, lười biếng, không nghe lời mẹ. Nhà nghèo, không đủ ăn, nhưng người đàn bà vẫn tần tảo cực nhọc trồng bắp, nuôi con. Bà dành phần con những miếng ngon nhất. Nhưng đứa con không hề thương yêu mẹ, còn hỗn xược, ham chơi...

Một hôm, biết mình sắp chết, bà lo lắng nhắn con: Ở chỗ mẹ nằm sẽ có một loại hạt nhỏ. Con hãy bỏ vào trong chậu, đổ nước vào, mang về hoàng cung sẽ đổi được rất nhiều vàng bạc...

Lần đầu tiên trong đời cậu nghe lời mẹ. Đường về hoàng cung rất xa, phải đi mất mấy tháng. Mệt mỏi, tiền hết, cậu phải xin từng bữa ăn. Dần dần, cậu mới nhận ra rồi thấm thía công lao mẹ đã cực nhọc nuôi mình.

Khoảng thời gian về tới hoàng cung là đủ tháng ngày để số hạt nhỏ ấy nảy mầm, lớn lên thành một nhánh cỏ trĩu những hạt nhỏ màu vàng xinh xắn, mùi thơm thoang thoảng. Nhớ mẹ, cậu đã nghĩ được đây là thành quả công lao cũng là tình thương của mẹ không vàng bạc nào sánh nổi. Thế là cậu không đem hạt vào cung vua nữa mà quay trở về... Đó là hạt lúa. Từ đấy, dân gian có phương ngữ “ngọc thực” để chỉ hạt cơm quý giá như ngọc vậy!

Truyền thuyết nào cũng gắn hạt lúa với nỗi cực nhọc và tình thương yêu. Không có tình thương yêu, vợ chồng nọ sẽ không cùng nhau vào rừng để tìm ra hạt lúa. Không có sự hối hận và tình thương mẹ, cậu con kia sẽ không trở về!

Gần gũi hơn, chùm truyền thuyết Hùng Vương kể, các vua Hùng dạy dân trồng lúa, cấy lúa rồi cùng các bô lão cứ ngày mồng một tháng Giêng và mồng mười tháng Mười âm lịch hằng năm thì khấn vía lúa, cầu trời cho dân no đủ. Nơi vua Hùng lên gọi vía lúa là đỉnh núi Hùng, về sau cũng là nơi thờ trời, thờ Thần lúa. Trong ngôi đền này, ngày xưa có thờ một tảng đá đẽo hình vỏ trấu to bằng cái thuyền...

Tục rước Lúa thần trong Lễ hội Trò Trám (Lâm Thao, Phú Thọ) diễn ra vào sáng 12 tháng Giêng. “Lúa thần” được biểu trưng là một khóm lúa bông dài, hạt mẩy, phải do chủ tế chọn từ vụ mùa năm trước. Đám rước đi quanh làng rồi về miếu Trám. “Lúa thần” được đặt lên bàn thờ.

Hạt nhân ý nghĩa của trò “Chạy tùng dí” (Hùng Sơn, Phú Thọ) là tín ngưỡng thờ Thần lúa. Ông chủ tế chọn những bông lúa nếp tốt, hạt to mẩy, bó thành 12 bó nhỏ (gồi lúa) tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Ngày đầu tháng Giêng, sau khi lễ, chủ tế tay cầm một cây mía đứng giữa sân đình. Sáu thanh niên, mỗi người mang một đòn gánh sơn son thếp vàng, mỗi đầu buộc hai bó lúa và hai nắm xôi gói lá dong. Họ chia làm hai nhóm chạy vòng quanh sân đình 3 vòng và reo: “Hú tùng dí, hú tùng dí”. Múa xong 3 vòng thì chủ tế tung lúa và xôi cho mọi người cùng cướp. Tín ngưỡng nào cũng thể hiện niềm tin và khát vọng của con người. Trò múa này là khát vọng về mùa màng bội thu, dân làng no ấm đủ đầy lúa xôi...

Hầu hết các dân tộc miền núi đều có tục cúng cơm mới. Thường là sau khi cây lúa trên nương ngả màu vàng, gia chủ sẽ chọn ngày lành đi cắt lúa mang về làm lễ. Cũng có khi là lúa nếp còn xanh để làm cốm. Nhưng thường là cắt lúa chín về đồ xôi. Trước khi lấy lúa về phải làm lễ cúng lúa mới. Tất cả đồ cúng được làm chín từ nhà. Đến nương bày lễ rồi thầy cúng gọi thổ công, thổ địa lên ăn để phù hộ cho mùa gặt hái bội thu, thóc lúa đầy bồ.

Lễ cúng cơm mới rất đặc biệt, tương tự như ngày Tết Nguyên đán của người Kinh. Đó là dịp để ông bà, cha mẹ dạy bảo con cháu biết quý trọng sức lao động, đạo lý, lối sống; là dịp để con cháu thể hiện sự biết ơn, hiếu thuận với ông bà, tổ tiên, Thần núi, Thần sông. Nên dù công việc có bận mải, mọi người vẫn cố gắng sắp xếp thời gian về sum vầy cùng gia đình. Có vùng, người Thái không làm giỗ người đã khuất vào ngày mất mà tổ chức cúng vào ngày lễ cơm mới.

Có một mẫu số chung của văn hóa nhân loại là cộng đồng nào cũng có tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Một mẫu số chung của văn hóa Việt là tất cả các dân tộc anh em đều chung tín ngưỡng thờ cúng cây lúa. Ngoài chứng minh mọi dân tộc đều chung một nền văn minh cây lúa, tín ngưỡng này như một chất keo văn hóa kết dính bền chặt góp phần tạo nên khối đoàn kết vững chắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thế nên “Sự tích trăm trứng” và “Quả bầu mẹ” xét đến cùng cũng chỉ là một!

NGUYỄN THANH