Tôi đứng sững, lấy điện thoại ra chụp một tấm, rồi một tấm nữa. Nhưng càng nhìn qua màn hình, tôi càng thấy không đủ. Có những vẻ đẹp không phản ánh hết được bằng hình ảnh. Tôi cất điện thoại, ngồi xuống bên khóm hoa. Một bà cụ từ căn nhà gần đó bước ra. Bà mặc chiếc áo bà ba màu khói, mái tóc bạc búi gọn phía sau, trên tay là chiếc gàu tưới cây. Có lẽ bà đã đứng trong hiên nhìn tôi một lúc lâu. Bà cười, hỏi tôi thấy hoa đẹp hông. Tôi đứng dậy, thành thật nói rằng hoa đẹp quá, rồi hỏi bà đó là hoa gì. Bà nhìn khóm hoa, im lặng một thoáng rồi nói loài hoa này ở đây gọi là hoa hồng lửa. Tôi hơi ngạc nhiên, bởi nhìn thế nào cũng chẳng thấy nó giống hoa hồng. Bà bật cười, bảo rằng hồng gì mà hồng, nó đâu có giống hoa hồng. Tôi cũng cười, nhưng lòng dấy lên sự tò mò quá đỗi. Bà đưa tay nâng một bông hoa lên, rồi nói rằng có những loài hoa người ta trồng vì muốn làm đẹp, còn có những loài hoa người ta nhìn để nhớ. Hoa này là vậy. Nó là hoa của một vùng đất.

Hơn nửa thế kỷ trước, Củ Chi chưa có những con đường như hôm nay. Đất Củ Chi gần như không có một ngày bình yên. Ban ngày bầu trời có thể xanh, nhưng tiếng máy bay vẫn vọng từ xa. Buổi chiều, khi mặt trời còn chưa lặn, người ta đã phải tính đường xuống hầm. Ban đêm, tiếng bom có thể làm cả mặt đất rung lên. Có những sáng thức dậy, người ta không biết căn nhà bên cạnh còn nguyên hay đã biến mất sau một trận pháo. Đất bị cày xới, cây bị bật gốc, ruộng bị phá. Những con đường bị bom khoét thành những hố sâu.

Nhưng rồi mưa xuống. Mưa Củ Chi ngày ấy cũng như bây giờ, dữ dội và ào ạt. Nước trút xuống những hố bom, chảy qua những bờ đất, len vào từng khe nhỏ. Mưa rửa khói bụi khỏi những chiếc lá, rửa đất khỏi những mảng tro, rồi thấm sâu vào lòng đất. Và sau mưa, những mầm cây lại nhú lên. Một màu xanh nhỏ bé rồi lớn dần. Đó là điều người Củ Chi quen nhìn thấy. Bom xuống, đất đau. Mưa về, đất sống.

Có một người con gái nhỏ người, nước da cô rám nắng vì những tháng ngày ngoài đồng, ngoài rừng. Mái tóc đen thường được buộc gọn sau gáy. Cô có đôi mắt sáng và một nụ cười mà những người từng sống cùng cô rất khó quên. Cô làm giao liên, tham gia du kích khi có nhiệm vụ. Cô thuộc đường làng, thuộc bờ mương, thuộc những lối mòn xuyên qua bụi cây, thuộc cả những đoạn địa đạo mà người mới xuống chỉ đi vài bước đã thấy ngột ngạt. Có người bảo cô liều, có người bảo cô gan, có người lại nói cô chỉ đơn giản là không có thời gian để sợ.

Cô gặp anh trong một buổi chiều mưa, khi anh vừa được điều từ căn cứ R về địa đạo này. Đó là lần đầu tiên anh cùng cô xuống lòng đất. Bên ngoài là mưa. Bên trong địa đạo là hơi đất ẩm lạnh. Tiếng nước nhỏ từng giọt. Ánh sáng từ miệng hầm phía sau yếu dần rồi biến mất. Cô đi trước, anh đi sau. Thỉnh thoảng cô quay lại nhắc anh cẩn thận. Anh bảo mình biết rồi, nhưng cô mỉm cười, nhắc rằng biết mà nãy giờ đã đụng đầu hai lần. Anh xoa trán, đổ tại tối quá. Cô bật cười. Đó là lần đầu tiên anh nghe tiếng cười của cô. Nó nhỏ thôi, nhưng giữa lòng đất tối tăm hôm ấy, anh thấy nó trong trẻo một niềm ấm áp.

Đâu đó hơn ba tháng sau thì anh thương cô. Chẳng biết từ lúc nào lòng anh cứ nhấp nhổm âu lo mỗi khi cô rời địa đạo về làng. Có thể từ một lần cô chia cho anh nửa củ mì. Hay từ một buổi chiều anh bị thương nhẹ, cô ngồi băng bó, rồi vừa làm vừa càm ràm rằng bộ anh không tính đường về nhà nữa hay sao? Anh chống chế rằng mình có né, chỉ tại địch bắn nhanh quá. Cô ngước lên, nhìn anh bằng ánh mắt vừa giận vừa thương, rồi bảo lần sau đừng đứng chỗ người ta bắn. Anh bật cười và cô cũng cười. Chiến tranh đâu như trò giặc giã. Làm sao né đạn? Làm sao tính đường về nhà? Rồi cả hai ngồi lặng im.

leftcenterrightdel
Minh họa: MAI MINH 

Những chuyện như vậy cứ nối tiếp nhau. Họ gặp nhau trong những khoảng thời gian rất ngắn, có khi chỉ vài phút, có khi một đêm, có khi nhiều ngày không thấy nhau. Trong chiến tranh, người ta không có quyền đòi hỏi thời gian. Buổi sáng còn gặp nhau, buổi chiều có thể đã mất nhau. Có lẽ vì vậy mà tình yêu của họ lớn lên rất lặng. Nó không có thư tình, không có hoa, không có những buổi hẹn. Nó chỉ được giữ trong những câu hỏi tưởng chừng rất bình thường. Hôm nay anh có bị thương không? Anh ăn gì chưa? Đêm nay anh ở đâu, mai có về không? Nhưng trong chiến tranh, mỗi câu hỏi như vậy đều mang theo một nỗi sợ mà không ai nói ra.

Cô thích hoa. Anh phát hiện điều đó khi một lần sau trận bom, khu đất bên ngoài bị cày xới, những bụi cây bị phá nát, một khóm hoa nhỏ mà cô từng chăm sóc biến mất dưới lớp đất. Cô ngồi xuống, dùng tay gạt từng mảng đất. Anh hỏi cô đang tìm gì. Cô nói tìm củ hoa. Anh bảo chắc chết rồi. Cô lắc đầu, bảo chưa chắc. Anh cười, cho rằng bom dập như vậy thì còn gì mà sống. Cô nhìn anh và nói: “Anh đừng coi thường đất. Đất này lạ lắm. Càng bị vùi, nó càng muốn mọc lên”. Anh nhìn cô. Không biết lúc ấy cô đang nói về cây hay về chính những con người đang sống trên mảnh đất này.

Một đêm, sau khi pháo địch tạm lắng, anh và cô ngồi trong một đoạn địa đạo. Bên ngoài trời có mưa nhỏ. Tiếng nước rơi xuống miệng hầm nghe đều đều. Ngọn đèn dầu cháy leo lét. Ánh sáng vàng yếu ớt phủ lên khuôn mặt cô. Anh hỏi sau này hòa bình cô muốn làm gì? Cô ngẩng lên và suy nghĩ rất lâu, rồi nói muốn trồng hoa. Hoa đỏ. Cô đưa mắt nhìn ngọn đèn dầu.

Tháng mười, mưa rắc những đợt cuối lên vùng đất thép. Bầu trời Củ Chi xám ngắt, không khí nặng nề, chim chóc cũng ít hót. Những người chiến đấu được phân công về các vị trí. Anh nhận nhiệm vụ ở phía ngoài. Cô đưa thương binh xuống địa đạo. Trước khi chia tay, anh bảo cô xuống trước, còn anh sẽ theo sau. Cô nhìn anh rất lâu. Anh biết cô hiểu. Cô biết những lời hứa trong chiến tranh mong manh đến mức nào, nhưng vẫn gật đầu. Cô nắm tay anh, chỉ một thoáng, rồi nhắc anh nhớ lời hứa đến ngày hòa bình thì mình trồng loài hoa màu đỏ khắp đất Củ Chi. Đó là lần cuối cùng anh nhìn thấy cô. Anh nằm lại mãi nơi cửa hầm. Mãi mãi với lời hứa trồng loài hoa đỏ trên mảnh đất này.

Cô hay tin khi mình cũng đang bị thương, nhưng vẫn quyết chạy về cửa hầm, bởi chẳng thể để xác anh bị đạn pháo giày xéo lần thứ hai. Rồi cô đi và không trở về. Đêm muộn hôm ấy, đồng đội chôn họ cùng một hố. Không có hoa. Chỉ có đất. Một mảnh gỗ nhỏ được cắm xuống. Trên đó ghi hai cái tên. Nhưng chiến tranh chưa kết thúc. Những trận bom sau đó tiếp tục trút xuống. Mưa xuống, đất sạt, hố chôn biến mất. Hai cái tên cũng dần mất dấu giữa những lớp đất bị cày xới.

Sau này người ta mới để ý, trên nền đất từng bị bom đạn cày nát xuất hiện những mầm cây. Một mầm, hai mầm, rồi cả một khóm. Những bông hoa nở ra với màu cam đỏ rực rỡ. Người dân đứng nhìn. Có người gọi đó là hoa huệ đỏ, có người gọi là hoa hồng đất lửa. Những người từng sống qua chiến tranh lại gọi nó bằng một cái tên khác: Hoa hồng lửa.

Không ai có thể nói chắc hoa mọc lên từ đâu. Không ai có thể chứng minh nó mọc từ những nấm mộ. Nhưng những người từng chứng kiến chiến tranh đều có một niềm tin rất giản dị, rằng đất Củ Chi đã nhớ. Mỗi khi mưa xuống, những mầm hoa lại thức dậy. Mỗi khi hoa nở, người ta lại nhớ những người đã nằm lại. Và màu cam đỏ ấy không còn chỉ là màu của cánh hoa. Nó giống màu của lửa, nhưng không phải thứ lửa của bom đạn. Đó là lửa của sự sống.

Bà Sáu kể cho tôi nghe về những người phụ nữ Củ Chi trong chiến tranh. Những cô gái còn rất trẻ. Có người chưa đầy hai mươi tuổi. Có người chưa kịp có một tấm hình. Có người hy sinh khi tuổi đời đẹp nhất. Bà kể về những người phụ nữ đã tham gia lực lượng du kích Củ Chi từ những ngày đầu gian khó, rồi trở thành một lực lượng chiến đấu kiên cường. Họ tải lương thực, đưa đạn dược, xây dựng cơ sở, trinh sát, chiến đấu và bám trụ trên chính mảnh đất quê mình.

Rồi bà nói rằng tôi đừng nghĩ hoa hồng lửa là chuyện của riêng một người. Tôi hỏi vậy là của ai? Bà nhìn khóm hoa thật lâu rồi nói tiếp: “Của những người con gái Củ Chi”. Sau đó bà nói thêm, đó là hoa của những người đã nằm lại, của những người còn sống và của cả tụi trẻ bây giờ.

Tôi hỏi tụi trẻ bây giờ thì liên quan gì? Bà cười, chỉ ra con đường trước nhà. Hồi đó, tụi nó giữ đất bằng súng. Bây giờ, tụi bây phải giữ đất bằng cách khác. Tôi hỏi cách gì? Bà chỉ những ngôi nhà phía xa, những khu vườn, con đường và ánh đèn đang bắt đầu sáng lên trong xóm, rồi bảo phải làm cho quê hương mình giàu lên, đẹp lên, văn minh lên, để con nít sinh ra ở đây được sống một đời bình yên. Bà ngừng một chút rồi nói: “Đó cũng là cách nhớ người đã khuất”.   

leftcenterrightdel
Tác giả Trần Minh Cường.  
Câu chuyện về một loài hoa gắn liền với đất Củ Chi anh hùng như mở ra một vùng ký ức, kết nối với hiện tại và trao truyền thông điệp biết ơn từ sự hy sinh của thế hệ trước cho hòa bình tươi đẹp hôm nay. Bằng lối kể giản đơn, chọn lát cắt và mở rộng biên độ thời gian, tác giả khéo léo dẫn dắt người đọc đi trọn vẹn câu chuyện một cách nhẹ nhàng. Tuy nhẹ nhưng lại khắc sâu vào tâm khảm độc giả bởi những câu chữ mạnh mẽ tác động trực diện vào cảm xúc. Chiến tranh, tình yêu, sự hy sinh và trên hết là khát vọng sống bỗng rực lên như tên của loài hoa nơi “Đất thép thành đồng”. (Nhà văn TỐNG PHƯỚC BẢO)

Truyện ngắn của TRẦN MINH CƯỜNG