Chẳng mấy chốc quán đã đông nghẹt người. Thời đó, sự xuất hiện của một người lạ đã khiến xóm tôi rộn lên rồi, huống chi đây là một người ăn mặc kỳ dị, ánh mắt đầy bí hiểm. Người ta đến quán vì hiếu kỳ, ban đầu chỉ vài người đàn ông, sau đó thì cả đàn bà con gái cũng kéo lại. Lúc này, bọn con nít tụi tôi đã đỡ sợ hơn, len lén đến xem cái ông lạ hoắc đó sẽ làm gì. Tôi thấy má tôi với mấy cô, mấy dì trong xóm mặc những bộ bà ba sờn bạc, kẻ đứng nhìn, người sà vào vuốt ve mấy tấm vải như người ta sờ vào báu vật. Dĩ nhiên, những người phụ nữ quanh năm chỉ cắm mặt với ruộng đồng, lo ăn từng bữa làm gì có tiền để mua mấy tấm vải sặc sỡ kia. Họ chỉ nhìn với vẻ thèm thuồng. Đợi bà con nhìn ngắm đã đời, người đàn ông nọ mới nở một nụ cười rồi nói sẽ bán chịu số vải đó. Ai thích tấm nào cứ lấy, 3 tháng sau ông ta sẽ trở lại nhận tiền. Khỏi phải nói cũng biết niềm phấn khởi của mấy cô, mấy dì ra sao. Ai cũng chọn cho mình những tấm yêu thích về may đồ mặc.

leftcenterrightdel
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều thánh đường Chăm ở huyện An Phú, tỉnh An Giang thực hiện nghiêm ngặt quy định giãn cách xã hội. Ảnh: Gia Minh

Đúng 3 tháng sau, người đàn ông nọ trở lại xóm. Bọn trẻ chúng tôi không còn sợ như trước nữa mà chạy rồng rắn theo sau, nhìn ông như một quái nhân. Ông ta điềm nhiên vào xóm, ngồi y chỗ cũ, đặt xấp vải mới cũng đúng cái chỗ lần trước ông đặt. Mấy bà, mấy cô trong xóm lại kéo đến. Và, mọi người ai cũng trả số nợ cũ cho ông ta một cách rất tự nguyện. Ông ta nhận tiền, nhét vào túi vải mang bên hông mà không cần đếm. Rồi tiếp tục bán chịu số vải mới. Rồi lại đi. Tôi thắc mắc sao ông ta chẳng cần sổ sách ghi chép số tiền người ta nợ, vậy sao ông nhớ mà thu tiền. Má tôi nói, người mua vải phải tự nhớ số tiền mà mình nợ ông ta và phải trả đúng số tiền, đúng hạn. Không ai dám ăn gian của người Chà Và đâu, họ “thư” chết. Hóa ra người đàn ông ấy là người Chà Và (hay còn gọi là người Chăm). Ở miền Tây Nam Bộ trước kia, hễ nghe nói tới Chà Và là ai cũng sợ. Bởi lẽ dân gian đồn đoán rằng người Chà Và có phép thuật. Ai bội tín với họ sẽ bị họ “thư” cho bụng bự, rồi bể bụng mà chết.

Sau này đi học đại học, có bữa đang từ nhà xe vào giảng đường, tôi bỗng gặp một cô gái mặc bộ trang phục rất khác lạ, trùm khăn lụa kín đầu, cổ, mặt mũi, ôm cặp đi trong sân trường. Tôi tò mò, lén đi theo cô ta tới lớp học, rồi nấp bên ngoài quan sát xem sao. Tôi thấy khi ngồi học cô cũng không tháo khăn trùm mặt, chỉ để hở ra đôi mắt đen huyền, lấp lánh. Tôi trở về lớp mình, lòng thắc mắc không biết tại sao lại có một cô gái bí ẩn như thế xuất hiện trong trường. Thấy tôi thơ thẩn như người mất hồn trong lúc thầy giảng bài, thằng bạn cùng bàn hỏi tôi có bị làm sao không. Tôi thì thầm kể cho nó nghe về cô gái bí ẩn mà tôi gặp trên sân trường lúc nãy. Nó chửi tôi ngu, nói đó là người Chăm mà cũng không biết. Phụ nữ Chăm hầu như lúc nào cũng mặc trang phục truyền thống như thế, kể cả đi làm, đi học hay trong sinh hoạt gia đình. Thằng bạn tôi còn nói, cô gái mà tôi gặp tên là Ma-ri, sinh viên sư phạm năm thứ ba. Tôi hỏi sao nó rành dữ vậy, nó cười cười, bảo là ban đầu cũng có thắc mắc giống tôi, rồi hỏi thăm tìm hiểu thì mới biết. Cả trường tôi lúc đó cũng chỉ có Ma-ri là người Chăm theo học, mà nghe nói con gái Chăm đẹp lắm nên mấy anh sinh viên ai cũng mê. Chỉ có tôi là lạc hậu, mãi khi Ma-ri học tới năm thứ ba tôi mới biết.

leftcenterrightdel
Các lễ hội văn hóa Chăm trước đây thường được tổ chức tại huyện An Phú, nơi sinh sống tập trung của đồng bào Chăm ở tỉnh An Giang.

Cũng nhờ đứa bạn giới thiệu mà tôi với Ma-ri quen nhau. Cô thích nói chuyện với tôi có lẽ vì tôi không tán tỉnh cô như bao anh chàng khác, mà chỉ muốn tìm hiểu những điều mới lạ của cộng đồng Chăm. Những lúc gặp nhau ở thư viện hay trên giảng đường, tôi thường hỏi Ma-ri về xóm Chăm của cô với những người phụ nữ luôn trùm kín mặt, về những người đàn ông da ngăm, râu rậm, đầu đội mũ trụ, người quấn xà rông, quỳ trong thánh đường cầu nguyện. Ma-ri còn kể cho tôi nghe về tục cấm cung của phụ nữ Chăm thời xưa, về những tháng nhịn ăn Ramadan của đồng bào cô. Những thắc mắc không đầu không cuối của tôi được cô bạn Ma-ri tận tình giải thích, giống như cô giáo giảng bài cho học trò. Tôi hỏi Ma-ri có chuyện người Chăm “thư” người ta giống như má tôi kể hồi đó không. Ma-ri cười, bảo làm gì có chuyện bùa ngải hoang đường đó. Người Chăm rất giữ chữ tín trong làm ăn buôn bán nên họ bán chịu cho ai thì cũng đinh ninh rằng người mua rồi sẽ trả đủ tiền, họ không cần ghi chép nợ nần gì cả. Những ai không hiểu cứ nghĩ họ dùng bùa, chứ thật ra không có. Tôi nghe Ma-ri giải thích thấy cũng hợp lý nên từ cảm giác e sợ người Chăm như lúc nhỏ, giờ tôi lại cảm mến họ nhiều hơn.

Ma-ri còn nói cho tôi biết người Chăm sống ở An Giang còn gọi là người Chăm Islam. Trước dân quê tôi gọi họ là người Chà, hay Chà Và. Nhưng Ma-ri không thích cách gọi đó vì nó có hàm ý hơi kỳ thị. Cô chỉ thích được gọi là người Chăm Islam thôi, nghĩa là người Chăm theo Hồi giáo chính thống, chỉ tôn thờ Thánh Allah và thiên sứ của ông. Hiện nay, người Chăm Islam định cư chủ yếu ở An Giang, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh. Trong đó nhiều nhất là ở huyện An Phú, tỉnh An Giang với khoảng 120.000 nhân khẩu. Sống đan xen giữa cộng đồng người Kinh nhưng các xóm Chăm rất dễ được nhận ra bởi những ngôi nhà sàn đặc trưng, bởi những thánh đường lộng lẫy luôn vang vọng tiếng kinh cầu và bởi những người Chăm mang vẻ đẹp huyền bí trong bộ trang phục truyền thống.

leftcenterrightdel
Phụ nữ Chăm “sân khấu hóa” nghề dệt lụa truyền thống của dân tộc. Ảnh: Hồng Hiếu

Có lần Ma-ri rủ tôi về xóm Chăm của cô chơi. Khỏi phải nói cũng biết tôi hào hứng cỡ nào rồi. Chúng tôi đi xe buýt từ Long Xuyên lên Châu Đốc, rồi qua phà Châu Giang. Trong lòng tôi dậy lên niềm háo hức khó tả, như những nhà thám hiểm sắp bước vào vùng đất đầy bí tích. Trên phà, vài thiếu nữ Chăm trùm kín mặt, đôi mắt đen huyền, lấp lánh tránh ánh nhìn của những người khách lạ. Sông Hậu chảy điềm nhiên soi bóng đôi bờ hư thực. Khóm mây trắng sừng sững đỉnh đầu, tĩnh tại như một công án thiền. Sau lưng chúng tôi, TP Châu Đốc gối đầu bên triền sông, viết vào dòng sử của mình những rộn rã ngược xuôi. Trước mắt, xóm Chăm Châu Giang hiện ra như một cõi bí ẩn trăm năm. Nóc thánh đường mái vòm trắng nhô lên giữa rặng cây xanh thẫm. Những tiếng cầu kinh của giờ lễ trưa vang rền dội vào lồng ngực tôi bao cảm xúc miên man khó tả.

Đến nhà Ma-ri rồi tôi mới biết đó là dịp Tết Roya Haji của dân tộc cô. Đồng bào Chăm Islam ăn tết ngay sau tháng chay Ramadan (tháng 9 theo lịch Chăm, thường rơi vào khoảng tháng 4, tháng 5 dương lịch). Trong tháng này, mỗi ngày từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, người Chăm không được ăn uống bất cứ thứ gì vào miệng, kể cả hút thuốc hay nuốt nước bọt cũng không được phép. Ý nghĩa của việc nhịn ăn là để chia sẻ, cảm thông với những người đói nghèo. Ngoài ra, nó còn là cách để con người tiết chế khỏi những cám dỗ về vật chất, để thuận lợi cho việc xóa tội ở cõi người và lên thiên đàng. Sau tháng ăn chay Ramadan là Tết Roya Haji. Dịp tết này, nam nữ trong xóm đều ăn mặc đẹp đẽ đi ra trước sân nhà hoặc đến thánh đường để chung vui, trò chuyện. Người ta cầu mong được tha thứ lỗi lầm của nhau trong một năm qua. Rồi những người đàn ông cùng hành lễ trong thánh đường, cùng ăn uống chung vui. Phụ nữ thì ăn uống tại nhà. Những gia đình khá giả thường đem thịt, gạo, muối, thậm chí cả tiền bạc đến sẻ chia cho những gia đình nghèo khó. Khách phương xa đến đây cũng được tiếp đãi khá chu đáo, được mời ăn uống và tham gia lễ hội.

Sau khi dùng cơm chiều, Ma-ri rủ tôi cùng đi xem lễ hội. Chúng tôi kéo nhau đến nhà văn hóa xã. Ánh đèn đã lung linh. Sân khấu được trang trí nhiều họa tiết lấp lánh. Đêm nay, các chàng trai, cô gái Chăm sẽ thi văn nghệ. Khắp các ngả đường, già trẻ, gái trai lũ lượt kéo đến ngồi kín cả sân rộng. Nhiều người Kinh cũng đến chung vui. Tiếng nói cười rộn vang, những ánh mắt long lanh niềm hứng khởi. Đêm nhạc bắt đầu. Những vũ điệu uyển chuyển, những lời ca say đắm cất lên trong đêm trăng bàng bạc. Bất giác, tôi nghe tiếng Ma-ri khe khẽ hát theo một ca sĩ trên sấn khấu: Hãy nói với chim trời Karim đã yêu em/ Hãy nói với sông dài em đã yêu Karim/ Hãy nói với cánh đồng Karim đã yêu em/ Hãy nói với muôn người em đã yêu Karim... Tôi nhìn sang, chiếc khăn Mat’ra đã được Ma-ri kéo xuống dưới cằm tự lúc nào, để lộ khuôn mặt thanh tú cho vầng trăng soi chiếu, đẹp như pho tượng thiên thần. Mãi đến bây giờ, vẻ đẹp ấy vẫn còn in hằn trong tâm trí của tôi.

Ramadan năm nay, một mình tôi trở lại xóm Chăm Châu Giang. Do ảnh hưởng của dịch bệnh nên các thánh đường cửa đóng then cài. Những cuốn kinh Qur’an nằm im lìm. Mấy khung cửi cũng nằm lặng lẽ ở một góc sàn nhà, như lâu rồi chưa có bàn tay ai chạm đến. Vài vị cao niên ngồi trước cửa nhà, mắt nhìn về nơi xa xăm vô định. Họ nói cho tôi biết xóm này đa số người dân sống bằng nghề dệt vải bán cho các nước trong cộng đồng Hồi giáo như Indonesia, Malaysia, Bangladesh... nhưng mấy tháng nay nước nào cũng lo chống dịch, các đơn hàng bị hủy hết. Mấy hộ buôn bán nhỏ cũng tự động đóng cửa tiệm vì thực hiện giãn cách xã hội. Những người làm nghề đánh bắt cá cũng gặp khó khăn vì nắng hạn kéo dài, nước sông cạn quá, xuồng ghe đi lại không được. Bà con chỉ còn biết lấy số tiền tiết kiệm ra chi tiêu dần và cùng nguyện cầu cho đại dịch qua mau.

Theo hướng chỉ của họ, tôi xuống mé sông xem thử. Mấy chiếc xuồng dùng để đi câu, đánh bắt cá hằng ngày, giờ nằm mắc cạn giữa đám lục bình gần bờ sông, cách dòng nước chừng vài chục mét. Đám trẻ trong xóm ra đấy chạy trên xuồng, trên thảm lục bình chơi thả diều, chơi trốn tìm. Có lẽ chưa bao giờ đồng bằng bị hạn nặng như năm nay. Nhìn dòng nước đục ngầu chảy một cách khó nhọc giữa lòng sông mà thương cho những kiếp người mưu sinh bằng nghề hạ bạc. Tôi lững thững trở lên xóm đúng giờ cầu kinh buổi chiều. Tuy thánh đường không mở cửa nhưng các tín đồ vẫn ăn mặc chỉnh tề rồi quỳ tại nhà mình, hướng mắt về thánh địa Mecca nguyện cầu những điều tốt lành sẽ đến với họ, với người thân của họ và thế giới đại đồng. Tôi không phải là một tín đồ Islam nhưng cũng thành tâm hướng mắt về thánh đường nguyện cầu cho qua cơn đại dịch, cho người dân nơi đây được đón một cái Tết Roya Haji rộn rã như ngày nào.

Chuyến phà rời Châu Giang dường như cũng nặng trĩu những nỗi niềm, cứ dùng dằng mãi không chịu cập bến. Bất giác, tôi thấy một thiếu nữ Chăm mặc áo dài xanh truyền thống, trùm khăn lụa đứng ở một góc phà. Em nhìn tôi, ánh mắt dường như nhấp nháy cười. Trong thoáng chốc, tôi thấy ánh mắt ấy giống ánh mắt Ma-ri nhìn tôi hôm nào, khi chúng tôi cùng đi về trong đêm trăng, khi tay tôi chạm khẽ vào tay em. Nhưng đó chỉ là ảo ảnh do tâm trí tôi thêu dệt mà thôi. Chẳng có cô gái Chăm nào trên chuyến phà hôm nay cả. Ma-ri cũng đã lấy chồng mấy năm nay và định cư trên thành phố, lâu rồi tôi không còn gặp lại em. Chỉ thảng hoặc trong một giấc mơ nào đó, tôi nghe em thì thầm hát lời mê đắm: Hãy nói với chim trời Karim đã yêu em/ Hãy nói với sông dài em đã yêu Karim/ Hãy nói với cánh đồng Karim đã yêu em/ Hãy nói với muôn người em đã yêu Karim... Gương mặt thanh tú của em ẩn hiện, đẹp miên man như một thiên thần, rồi từ từ tan biến vào hư ảo.

Bút ký của TRƯƠNG CHÍ HÙNG