QĐND - Tiếng kèn pílè là tập truyện ngắn thứ tám của Bùi Thị Như Lan, một nữ nhà văn quân đội đang tại ngũ, hiện công tác tại Báo Quân khu I. Ấn phẩm do NXB Quân đội nhân dân phát hành năm 2015.
Trung tá Bùi Thị Như Lan người dân tộc Tày, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2006. Đọc truyện ngắn của chị, người đọc như cảm nhận được những sắc màu, âm thanh, đường nét, mùi vị của không gian rừng núi. Hay nói cách khác, đó là một “ngoại cảnh” đặc sắc thường ít thấy xuất hiện trong văn chương-văn xuôi đương đại. Mười truyện trong tập Tiếng kèn pílè tôi hình dung như mười ngón tay của hai bàn tay một người, đan quyện, bền chặt trong bất kỳ hành động nào.
Truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan, trước hết đã mở ra trước độc giả một không gian đặc biệt, đó là thiên nhiên rộng lớn, đẹp đẽ và thanh tao của miền rừng núi. Ở đây không có sự náo nhiệt, bụi bặm, ồn ã của phố thị, không có nạn kẹt xe, tắc đường, không có những dòng người bị dồn ứ trông như từng đoàn quân nin-da ngờm ngợp mũ mão, áo quần, che mặt chống nắng, chống bụi. Có thể ở đâu đó rừng bị phá, có thể ở đâu đó những thói hư tật xấu của phố phường “đổ bộ” đến tận miền sơn cước, có thể ở đâu đó có các cuộc ly hương của những người con núi rừng, nhưng nhìn đại thể, thiên nhiên, rừng núi vẫn giữ nguyên được vẻ đẹp nguyên khôi. Một kẻ vừa ra tù (tội danh khiến anh ta vào tù rất “lãng xẹt”), sau ba năm, nay lại thấy mình “lọt thỏm giữa ba bề, bốn bên màu xanh bạt ngàn của núi rừng”. Sau ba năm, nay lại cảm nhận được “thinh không tràn ngập hương thơm nồng nàn của xôi nếp và tiếng chày giã bánh giầy thậm thịch”…
 |
| Bìa tập truyện ngắn Tiếng kèn pí lè. |
Không phải vô cớ mà tác giả chú ý đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, trong khi đa số các nhà văn ở chốn thị thành, như ta thấy, thường “nhốt” nhân vật của mình trong các khối bê tông, nhà kính công sở với mùi khét của máy vi tính, điều hòa nhiệt độ… Mỗi bước đi của nhân vật trong truyện ngắn Bùi Thị Như Lan đều quấn quýt với thiên nhiên: “Tôi về ngang dốc Bờm Ngựa thì đỉnh Phoọc Mạ đã ngậm nửa ông mặt trời đỏ sậm. Sương mù rủ nhau chậm chạp trở về trên núi. Rừng nhuộm màu tím biếc. Dưới những vòm lá, tiếng chim gọi nhau về tổ ríu rít, ấm áp” (Trăng mọc trong thung lũng).
Tuy nhiên, con người của xứ sở rừng núi vốn bao đời nguyên khôi nay cũng phát lộ những quan hệ chằng chịt, phức tạp như trong truyện Tiếng kèn pílè. Phức tạp ngay trong một gia đình, giữa những người có quan hệ huyết thống. Siển là em trai Sính nhưng lại có quan hệ với chị dâu là Mí, đẻ ra thằng Thản. Lý do ư? Là vì Sính bất lực, là vì tâm nguyện của người cha muốn có cháu nối dõi tông đường. Về một phương diện nào đó là loạn luân. Nhưng về một phương diện khác lại là nhân đạo. Chính cái mâu thuẫn này khiến cho Siển thấy “tiếng kèn pílè của anh Sính ngoài bờ suối lại ngân lên những lời oán trách. Lời kèn như xát muối, đốt lửa. Siển đâu muốn trong nhà chuyện bùng nhùng như rừng rậm thế này (…). Bao năm qua rồi mà Siển không thể nhìn người con gái nào khác? Siển vẫn một mình, một bóng lầm lũi thôi (…). Siển mong thằng Thản chóng lớn thành cây to, cột chắc. Như thế là Siển toại nguyện rồi”... Đọc truyện, tôi nghĩ rằng Bùi Thị Như Lan đã không hề nao núng, viết bạo tay và chắc tay. Lại cũng có người nhận xét, sau khi đọc truyện này, thấy nhà văn như nghệ sĩ xiếc đi trên dây. Một chút sơ suất là ngã. Và ngã đau. Rất may là tác giả đã giữ được thăng bằng.
Truyện ngắn của Bùi Thị Như Lan thường được viết theo lối truyền thống: Có cốt truyện (có “chuyện”, kể lại được), có tình tiết, chi tiết tiêu biểu. Lối truyện này phù hợp với cách đọc thông dụng hiện nay. Truyện thường được mở đầu bằng mô-típ “trở về” của một nhân vật chính: “Hắn đi mà như chạy, cái chân hắn bỗng giống như cánh chim được sổ lồng. Đúng rồi, ba năm trong trại giam đủ để hắn thấy cuộc sống ngoài đời quý giá đến nhường nào” (Lá bùa đỏ); “Tôi thấy mình trở về ngôi nhà sàn năm gian có những cột nghiến tròn trịa, nâu bóng mà lũ mối mọt không sao đục nổi” (Lời sli trôi trong trăng); “Nấn ná chần chừ mãi Siển cũng về nhà. Bỏ lại sau lưng cái ồn ào, náo nhiệt của thị trấn” (Tiếng kèn pílè); “Tôi về ngang dốc Bờm Ngựa thì đỉnh Phoọc Mạ đã ngậm nửa ông mặt trời đỏ sậm” (Trăng mọc trong thung lũng); “Dần mải miết sải bước qua đỉnh đèo Khau Slôm. Trên chặng đường gập ghềnh về bản (…). Mỗi lần về nhà, Dần đi như bò qua đây, muốn đi nhanh nhưng không đi nổi” (Mùa cây mắc tào trổ hoa); “Lần này mình về trên núi cũng là một công đôi việc” (Trầm hương)… Những cuộc trở về của các nhân vật là để tìm lại chính mình, là để đi tìm thời gian đã mất. Nhưng quan trọng hơn là để trở về nơi hoang dã, nguyên thủy của núi rừng. Dường như nhân vật của Bùi Thị Như Lan dẫu có đi đâu thì cuối cùng vẫn như dân gian nói “cáo chết ba năm quay đầu về núi”. Nỗi niềm cố hương rất sâu đậm trong tâm thế nhân vật.
 |
| Trung tá Bùi Thị Như Lan (ngoài cùng bên phải) và các đồng nghiệp nữ tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ IX, tháng 7-2015.(Ảnh: GIA BẢY) |
Trong một tác phẩm truyện thì sự kết hợp hai yếu tố “kể” và “tả” rất quan trọng. Nếu ham kể thì mạch truyện phát triển nhanh nhưng lại thiếu những khoảng lặng cần thiết. Nhưng nếu ham tả (cảnh và tình) thì đôi lúc có thể tạo ra sự dềnh dàng, mạch truyện bị tãi ra. Trong mười truyện, tôi thấy khi tác giả kết hợp nhuần nhuyễn kể và tả thì truyện trở nên gọn ghẽ hơn (Lá bùa đỏ, Lời sli trôi trong trăng, Tiếng kèn pílè, Mùa cây mắc tào trổ hoa). Khi tác giả ham tả thì rõ ràng truyện bị “phình” ra, điển hình như Gió thổi qua rừng (truyện được chia thành 5 đoạn, móc nối với nhau là cảm xúc của nhân vật “Nó” về rừng thông đuôi ngựa, nhiều đoạn như là những “trữ tình ngoại đề”). Tuy nhiên cũng cần ghi nhận những nỗ lực tả của tác giả khiến cho bức tranh thiên nhiên gắn với đặc sản vùng miền như: Đoạn tả cây mắc tào (trang 85-86), điệu sli (trang 33-35), tiếng kèn pílè (trang 59-60),… đem lại sự thỏa mãn cho độc giả ngày nay vốn rất thông minh nhưng đôi khi khó tính và thậm chí… đỏng đảnh.
Văn của Bùi Thị Như Lan cho người đọc cảm nhận được chất trữ tình, lãng mạn của một ngòi bút nữ đa tình, nhiều nhiệt hứng với đời, với người, đặc biệt đa tình với thiên nhiên. Đọc Bùi Thị Như Lan, độc giả như tìm được cảm giác yên bình, tìm thấy nơi nương tựa tinh thần khi con người được trở về, tắm mình và vùng vẫy thỏa chí giữa thiên nhiên rộng lượng và tươi đẹp. Ấy là nhờ bởi “bản tính nữ” của tác giả, hay nhờ bởi phẩm chất của một người lính cầm bút từ khi sinh ra đã gắn bó với núi rừng?
|
“Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt Bắc, nơi có những cánh rừng đại ngàn tầng tầng lớp lớp mọc từ dưới lòng thung leo ngược lên đỉnh núi. Nơi ấy, từng đêm bên bếp lửa nhà sàn, những câu chuyện cổ tích, bao lời hát ru, câu sli, câu lượn... của mẹ đã gieo mầm tình yêu văn học trong tâm hồn tôi... Theo tôi, văn chương phải là sự cộng hưởng hài hòa giữa cảm xúc nghệ thuật và cảm xúc công dân. Cuộc sống luôn mời gọi nhà văn đi tìm cảm hứng trong nó và nhắc nhở nhà văn rằng bạn là một công dân”.
BÙI THỊ NHƯ LAN
(Theo “Nhà văn Việt Nam hiện đại”)
|
BÙI VIỆT THẮNG