Múa là một trong những loại hình nghệ thuật có lịch sử lâu đời nhất của nhân loại. Bản chất của múa là dùng những động tác của bộ phận cơ thể người tác động vào thị giác, giúp người xem hình dung ra những việc đã và chưa từng có trong đời sống hoạt động của xã hội. Chính những hình dung và tưởng tượng ấy đã tạo ra sức hút với người xem.

Trước khi con người biết viết, biết vẽ, cho ra những tác phẩm hội họa hoàn chỉnh thì múa đã ra đời. Lúc đầu chỉ là những hành động cơ thể chuyển động theo nhịp điệu của lao động, lễ nghi, tín ngưỡng và những cuộc vui cộng đồng đơn giản, nhưng càng về sau, múa càng phát triển, trở thành bộ môn nghệ thuật. Mỗi dân tộc, mỗi vùng đất và mỗi quốc gia đều có những điệu nhảy múa mang đậm đặc trưng truyền thống, gắn với điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội và phương thức sản xuất.

Mở rộng và tìm hiểu sâu về nghệ thuật biểu diễn múa cũng có vô vàn cái hay, cái đẹp. Đó là nhịp điệu, không gian, khoảng lặng, ánh sáng, tương tác, biểu tượng, ký ức, tư tưởng, văn hóa và cảm xúc... Các nhà nghiên cứu từng đánh giá, có những điệu múa gần như không cần một động tác mạnh vẫn khiến người xem bị ám ảnh. Có những tiết mục không hề phô diễn cơ thể nhưng chỉ một bàn tay đưa lên, một bước chân dừng lại, một thân người nghiêng đi trong ánh sáng, tiếng nhạc... cũng đủ kể một câu chuyện khiến khán giả tò mò, ấn tượng và nhớ mãi.

Tôi từng xem các tác phẩm múa “Swan lake” (Hồ thiên nga), kịch bản của Vladimir Petrovich Begichev và Vasily Geltser, biên đạo Julius Wenzel Reisinger, âm nhạc Pyotr Ilyich Tchaikovsky; và tác phẩm “The rite of spring” (Lễ hội mùa xuân) của biên đạo múa Vaslav Nijinsky, âm nhạc Igor Stravinsky, thiết kế sân khấu và trang phục Nicholas Roerich... và nhận ra giá trị thẩm mỹ của múa khó mà đong đếm.

Trong thế giới đương đại, múa đã bứt phá khỏi giới hạn của những tiết mục độc lập, trở thành một bộ môn nghệ thuật mang tính liên ngành mạnh mẽ. Sự hòa quyện chặt chẽ giữa múa với âm nhạc, ánh sáng, mỹ thuật sân khấu, trang phục và công nghệ trình diễn số đã tạo nên một không gian nghệ thuật đa giác quan sống động. Trong cấu trúc ấy, âm nhạc và ánh sáng không chỉ đóng vai trò minh họa hay tô điểm, mà trực tiếp trở thành "ngôn ngữ thứ hai" song hành cùng chuyển động cơ thể, giúp định hình nhịp điệu tâm lý và khắc họa chiều sâu không gian. Sự kết hợp liên ngành này giúp các chuyển động hình thể trừu tượng được chắp cánh, truyền tải trọn vẹn đến khán giả những câu chuyện, tư tưởng nhân văn cùng giá trị thẩm mỹ sâu sắc.

leftcenterrightdel

Nhặt "sạn" trong biểu diễn múa. Minh họa: Mai Minh 

Nhìn vào nghệ thuật biểu diễn múa ở Việt Nam, theo đánh giá của những người trong nghề, hơn 20 năm qua, nghệ thuật múa có sự phát triển vượt bậc và hiện diện ngày càng nhiều trong đời sống văn hóa. Từ sân khấu chuyên nghiệp đến các chương trình nghệ thuật quần chúng, từ lễ hội, sự kiện, khai giảng, giao lưu đến những sân khấu ngoài trời, múa gần như đã trở thành một thành phần quen thuộc. Sự xuất hiện của nhiều câu lạc bộ, nhóm nhảy, vũ đoàn, những người trẻ yêu thích múa là tín hiệu đáng mừng. Nó cho thấy sức sống của nghệ thuật múa và nhu cầu biểu đạt bằng cơ thể trong đời sống đương đại tăng nhanh.

Nhưng cũng từ đây đã xuất hiện những “sạn” không đáng có trong biểu diễn múa. Không ít tác phẩm được các biên đạo múa đưa vào những động tác biểu diễn cốt gây chú ý, gây kích thích thị giác người xem, hoặc lấp vào một khoảng trống của chương trình để đạt mục đích nào đó. Đáng chú là biểu diễn múa có xu hướng khoe cơ thể.

Một vài biên đạo múa kể với tôi rằng, nhiều nhóm múa hoặc các câu lạc bộ đã bắt chước, học theo các vũ điệu trên mạng xã hội rồi tập luyện và mang đi biểu diễn. Họ đã cải biên trang phục theo hướng khoe cơ thể để thu hút khán giả. Cá biệt, trong một số chương trình biểu diễn nghệ thuật được xã hội hóa, những biên đạo múa phải cho diễn viên mặc theo yêu cầu của ban tổ chức, của mạnh thường quân để vừa lòng khách VIP. Điều mà nhiều người yêu và mong mỏi ở nghệ thuật múa thất vọng chính là trong nhiều chương trình biểu diễn, múa chỉ được coi là phụ họa vì dàn dựng dễ dãi, hời hợt, biến diễn viên thành đạo cụ sống để lấp khoảng trống sân khấu. Có biên đạo múa từng cám cảnh chia sẻ với tôi rằng: Chẳng biết từ khi nào, múa đã bị trở thành “mồi thị giác” để giữ khán giả, khiến nó mất dần tư cách của một tác phẩm độc lập. Múa vô tình trở thành phần trang trí cho ca sĩ, cho sân khấu, cho sự kiện, thậm chí cho một sản phẩm quảng bá.

Thực tế, các câu chuyện biểu diễn múa chưa đáp ứng mong muốn của công chúng yêu nghệ thuật là không hiếm. Ví dụ diễn viên biểu diễn múa trong lồng kính ở bãi biển về đêm tại một thành phố có di sản tự nhiên nổi tiếng với những động tác khó hiểu trong khi biểu cảm ánh mắt và nụ cười không phù hợp. Đáng nói hơn, khi nhiều người trẻ tìm đến với múa nhưng hiểu biết về ngôn ngữ múa rất sơ sài nên sản phẩm biểu diễn rất dễ đồng nhất múa với chuyển động hình thể.

Có hiện tượng múa bị “sạn” khác rất đáng quan tâm mà tôi tạm gọi là múa “nhầm địa chỉ”. Gần đây, trên mạng xã hội lan truyền các phản hồi chưa hay về chương trình rước đèn Trung thu ở một địa phương miền núi phía Bắc mà tâm điểm là múa.

Có một câu chuyện khác tôi từng chứng kiến cách đây vài năm thể hiện rõ việc múa bị đặt “nhầm địa chỉ”. Trước giờ chương trình khai mạc cuộc đua xe đạp, ban tổ chức yêu cầu cắt những tiết mục múa trong chương trình văn nghệ chào mừng vì ăn mặc hở bạo. Ban tổ chức đã thay bằng những tiết mục khác đúng với ý nghĩa chính trị, truyền thống lịch sử và văn hóa mà cuộc đua hướng tới. Như vậy, ban tổ chức chương trình đã đưa ra quyết định đúng đắn, không cho phép cơ thể trở thành thông điệp duy nhất rồi gây thông tin và tạo dư luận trái chiều.

Trong các loại hình nghệ thuật đương đại, múa là ngành đặc thù. Nó không cần nhiều tiền đầu tư như phim ảnh, không cần dàn nhạc hoành tráng, nhưng lại cần thời gian tập luyện và sáng tạo.

Để nghệ thuật múa Việt Nam phát triển bền vững, thúc đẩy và nâng tầm văn hóa nước nhà trong bối cảnh hội nhập và sự bứt phá của khoa học, công nghệ thì cần những giải pháp quản lý bài bản, cởi mở, tiệm cận với thông lệ thế giới.

Ngoài các giải pháp cơ chế phát triển văn hóa, nghệ thuật nói chung mang tầm chiến lược, điều cần nhất để thúc đẩy nghệ thuật múa trong xã hội là tích cực ngăn chặn ngay tình trạng múa tự phát, tăng cách "nuôi nghề" tối ưu.

Các nước có nền nghệ thuật múa phát triển trên thế giới thường chọn cách siết chặt hành lang pháp lý về bản quyền tác phẩm, xây dựng hệ sinh thái phê bình nghệ thuật độc lập và phát triển các thiết chế văn hóa công cộng để nâng cao thẩm mỹ người xem. Đây là những kinh nghiệm rất hữu dụng và có thể áp dụng trong phát triển nghệ thuật múa Việt Nam.

Tôi cho rằng, các biên đạo và nghệ sĩ múa nên mạnh dạn đưa múa đến bảo tàng, nhà ga, phố đi bộ... để múa đến gần hơn với công chúng. Đồng thời tập trung xây dựng quỹ tài trợ múa để khuyến khích sáng tạo. Nội dung cốt lõi là xây dựng cơ chế tài trợ nhiều bên, cho phép các vũ đoàn được quyền tổ chức xã hội hóa kinh phí thông qua kêu gọi tài trợ nghệ thuật, nhưng được khấu trừ thuế. Cần tăng cường các biện pháp bảo vệ bản quyền và sử dụng bản quyền trả phí. Đây chính là động lực để người làm nghề đầu tư sáng tạo thật, thay vì nhái lại vũ điệu đã có.

Để chấm dứt tình trạng nhiều “sạn” trong biểu diễn múa thì cần có bộ tiêu chí cho các biên đạo múa ở các cấp. Cơ quan quản lý văn hóa nên quy định có biên đạo múa ở các quy mô chương trình biểu diễn nghệ thuật khác nhau với các tiêu chuẩn, tiêu chí đi kèm. Đây là cách "khóa cửa" tình trạng “trăm hoa đua nở” trong bộ môn nghệ thuật này. Bên cạnh đó, cũng cần xây dựng bộ quy chế trang phục và quy định rõ đối tượng được xem những chương trình múa phù hợp. Chương trình có trẻ em, nghi lễ truyền thống, lễ hội tôn giáo phải có tiêu chuẩn riêng, làm "thước đo" để bên tổ chức đối chiếu, quản lý.

Nhặt “sạn” trong múa chỉ là việc bất đắc dĩ. Điều quan tâm nhất là nghệ sĩ múa được trả lương xứng đáng, được bảo vệ bởi chuẩn nghề và bản quyền. Khi khán giả biết trân trọng giá trị lao động nghệ thuật chân chính, nghệ thuật múa Việt Nam mới có điểm tựa vững chắc để bứt phá và vươn tầm quốc tế.

VÂN VŨ