Những dòng chữ ông viết cho tôi đầu mỗi trang sách ông tặng còn nguyên màu mực, như những tình cảm ấm áp ông bà dành cho tôi: “Ông tặng cháu Vũ Thu Phong yêu quý-Tết Ất Dậu 2005”, “Ông bà tặng cháu Thu Phong yêu quý, 6-6-2013 (ký tên hai ông bà)”, “Yêu quý tặng cháu Thu Phong-ông Nam, 2016”... Đọc lại những dòng thơ ông viết:

      ... Túc tắc sống

      Hôm lại hôm

      Túc tắc yêu

      Người quanh mình

      Túc tắc viết

      Túc tắc đọc

      Không dừng bước

      Lùi một phân!

      Túc tắc sống

      Ngày nối ngày

      Túc tắc say

      Từng phút giây

      Tới khi nào

      Buông tay bút

      Trời xanh ngút

      Túc tắc bay...

                        (“Túc tắc”)

Ông đã chuẩn bị cho sự ra đi của mình an nhiên, bình thản như thế, thôi mình hãy dằn lòng không buồn nữa để ông ra đi thanh thản, để nơi “trời xanh ngút” kia, ông “túc tắc bay” và mỉm cười. Tôi tự nhủ. Những kỷ niệm về ông như một cuốn phim quay chậm hiện về...

leftcenterrightdel
Vợ chồng nhà văn Vũ Tú Nam. Ảnh: VŨ THU

Mùa hè năm 1994, tôi còn là một cô bé học lớp 9 tham gia trại sáng tác văn học thiếu nhi. Tôi là trại viên nhỏ tuổi nhất, ban tổ chức phân công ông đọc, góp ý những sáng tác của tôi. Lúc đó, ông là Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (chức vụ tương đương như Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay). Dù bận rộn nhưng ông lại là người về muộn nhất sau buổi làm việc với trại viên. Yêu thích văn của ông từ khi học lớp 3, lớp 4 với những bài văn miêu tả thuộc hàng kinh điển với học sinh chúng tôi như “Cây gạo”, “Giàn mướp”, những truyện thiếu nhi đặc sắc như “Cuộc phiêu lưu của Văn Ngan tướng công”... tôi háo hức chờ gặp tác giả. Trong mắt một cô bé 14 tuổi yêu văn chương là tôi khi ấy, ông giống như một ông tiên bước ra từ trang sách với mái tóc bạc trắng, vầng trán cao tinh anh và đôi mắt, giọng nói hiền từ, đôn hậu. Nhưng ông tiên này không xa vời, chỉ có trong điều ước mà thật gần gũi, ân cần, dễ gần, vừa như người thầy, vừa như người ông của tôi. Ngoài những góp ý về truyện ngắn, ông còn nói chuyện với tôi, cho một cây bút trẻ như tôi những lời khuyên về cuộc sống, về sáng tác. Ông dặn tôi làm nghề viết phải chú ý quan sát, hòa mình vào cuộc sống và thiên nhiên để có thể hóa thân vào các nhân vật. Ông thương tôi còn nhỏ đã phải xa bố mẹ đi học trường chuyên. Ông dặn dù thế nào cũng phải vào được đại học... Sau đó, ông còn viết thư gửi về cho tôi. Có lẽ vì tôi vừa là đồng hương, vừa cùng họ Vũ với ông nên được đón nhận sự quan tâm đặc biệt của ông.

 Khi tôi học đại học, thi thoảng đến thăm ông bà, tôi thực sự trở thành một đứa cháu của ông bà. Ông và bà-nhà văn, nhà báo Thanh Hương thường chuẩn bị bánh kẹo, đồ ăn để thết đãi tôi như đứa cháu lâu không về nhà. Ông bà còn để dành cho tôi nhiều sách, báo, tạp chí văn học vì biết nó có ích cho tôi. Tôi còn nhớ rằng đã rất tò mò muốn gặp Ly, My, Đốm, Chấm-những người cháu và cũng là những nguyên mẫu nhân vật trong những tập truyện của ông. Tôi ít gặp họ nhưng qua lời kể đầy yêu thương của ông bà, được ông bà cho xem ảnh, tôi biết họ đều rất xinh đẹp và thành đạt. Khu vườn nhỏ, hiện thân của những nhân vật cây lá, loài vật trong truyện của ông cũng hiện ra thật đáng yêu. Tôi thích nhất cây khế xanh rợp bóng sân vườn nhà ông bà, chim chóc luôn ríu rít như đàn trẻ nhỏ vì có người yêu thương chúng mà bay về. Thấy tôi nhìn những chùm khế chín vàng lúc lỉu trên cành đầy thích thú, ông lúc đó đã 80 tuổi, bắc ghế lên đứng hái cho tôi. Nhớ lại dáng ông lúc đó lưng đã bắt đầu hơi còng nhưng vẫn cố rướn lên để chọn cho tôi một chùm khế đẹp mà tôi vừa cảm động, vừa nhủ thầm: “May sao lúc đó ông không ngã!”. Sao lúc đó tôi lại hồn nhiên vô tư thế, không ngăn ông lại. Ông là như vậy, luôn hết lòng chiều chuộng các cháu, niềm vui của các cháu chính là niềm hạnh phúc của ông.

Mỗi năm tôi đến thăm ông bà vài lần. Lâu tôi không đến, ông bà lại hỏi thăm tình hình của tôi. Tôi luôn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm của ông bà. Trong mắt tôi, ông bà là những người tinh hoa của văn nghệ sĩ thế hệ trước, là những tấm gương mẫu mực về sự sống và viết, sự hiểu biết, về tầm nhìn, và đặc biệt, về tình yêu thương dành cho nhau, dành cho gia đình, cùng với cách mà ông bà yêu thương và giáo dục con cháu. Mỗi lần đến thăm ông bà, được trò chuyện với ông bà, tôi luôn cảm nhận được sự ấm áp, tình cảm và dường như không có khoảng cách thế hệ vì sự hiểu biết của ông bà, những lời khuyên của ông bà dành cho tôi luôn luôn đúng dù có lúc, có điều tôi không thực hiện được. Tháng 5-2020, khi đi học về, tôi ghé thăm ông bà. Hôm đó, ông đã bắt đầu hay quên nhưng phong cách hài hước dí dỏm của ông thì vẫn vậy. Ánh mắt lấp lánh niềm vui, sự phấn khích của ông khi nhìn thấy tôi mặc quân phục, ông bắt tay tôi mãi như bắt tay đồng đội nhỏ khiến tôi rất vui và không thể nghĩ đó là lần cuối cùng được gặp ông...

 Ông đi rồi, mãi còn tình yêu ở lại nơi bà và các con cháu, cùng những tác phẩm còn mãi với thời gian, với những thế hệ độc giả yêu mến ông-nhà văn bước từ cuộc đời vào trang sách với trái tim mãi ấm nóng yêu thương. Như ông từng nói: “Tôi thường chú ý và tin vào những điều tốt đẹp, điều thiện ở con người. Tôi quý sự trung thực, lòng nhân hậu, nhất là sự trung thực và lòng nhân hậu trong mỗi sáng tác dành cho trẻ thơ”.

      ... Ông sẽ hòa vào tiếng trẻ thơ cười nói

      Vào gió lao xao cành khế

      Vào mộ vàng lặng im

      Vào góc vườn im lặng 

      Ông ra đi, cả cuộc đời ông là quà tặng.

                                        (“Quà tặng”, 2006)

Vài nét về nhà văn Vũ Tú Nam:

Tên khai sinh của ông là Vũ Tiến Nam, sinh ngày 5-10-1929, tại thôn Lương Kiệt, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nhà văn Vũ Ngọc Bình và nhà thơ Vũ Cao là hai anh ruột của ông.

Xuất thân trong một gia đình nhà Nho, lúc nhỏ, ông theo học Trường Tiểu học Pháp-Việt ở thị xã Hòa Bình, sau đó lên Hà Nội tiếp tục học bậc trung học.

Năm 1947, ông nhập ngũ. Nhờ khả năng viết văn, ông được phân công công tác tại Báo Chiến sĩ (Liên khu 4). Năm 1948, ông được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1950, ông được ông Lưu Văn Lợi xin chuyển về công tác tại Báo Quân đội nhân dân. Ông cũng là một trong những biên tập viên đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (năm 1957), cán bộ văn nghệ thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, cấp bậc Thiếu tá.

Tháng 6-1958, ông chuyển sang công tác tại Báo Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, được kết nạp là hội viên. Trong năm sau đó, ông lần lượt công tác tại các vị trí: Thư ký tòa soạn Báo Văn học (nay là Báo Văn Nghệ), Phó tổng biên tập Báo Văn Nghệ, Giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới (nay là Nhà xuất bản Hội Nhà văn). Ông cũng được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III, IV; Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV.

Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa IX.

Tác phẩm nổi bật:

- “Bên đường 12” (truyện vừa, 1950, giải nhất văn xuôi văn nghệ Liên khu 4)

- “Quê hương” (tập truyện ngắn, 1950)

- “Nhân dân tiến lên” (truyện, 1951)

- “Sau trận núi Đanh” (truyện, 1951)

- “Ngày xuân” (tập truyện ngắn, 1953)

- “Giành lấy tương lai” (truyện, 1954)

- “Kể chuyện quê nhà” (tập truyện-ký, 1954)

- “Ngày xuân” (truyện ngắn, 1963)

- “Cuộc phiêu lưu của Văn Ngan tướng công” (1963)

- “Thử thách thầm lặng” (truyện, 1971)

- “Sống với thời gian hai chiều” (tập truyện-ký, 1983)

- “Mùa xuân tiếng chim” (truyện ngắn, 1985)

- “20 truyện ngắn” (1994)

- “Mây hồng” (1998)

- “Có và không có” (Tuyển thơ dịch, 2003)

- “Hồi ức tình yêu” (Tuyển thư tình, cùng nhà văn Thanh Hương, 2017)

- 28 tập truyện nhỏ cho thiếu nhi, trong đó có 3 tập do ông tuyển chọn, gồm: “Con sáo gỗ”, “Tiếng ve ran” và “Trăng tiêu lá”...

Nhà văn Vũ Tú Nam được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

Nhà biên kịch VŨ THỊ THU PHONG