QĐND - Trước khi bước vào chiến dịch, Bộ Tổng tham mưu đã làm việc với Tổng cục Cung cấp tính toán bước đầu, phải huy động cho chiến dịch 4.200 tấn gạo (chưa kể gạo cho dân công), 100 tấn rau, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường. Tất cả đều phải vận chuyển qua chặng đường dài 500km phần lớn là đèo dốc hiểm trở, máy bay Pháp thường xuyên đánh phá. Theo kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở Chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), để có 1kg gạo đến đích phải có 24kg ăn dọc đường. Vậy nếu vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn, và phải huy động gần 2 triệu dân công để gánh. Cả hai con số này đều cao gấp nhiều lần so với kế hoạch dự kiến ban đầu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã đề ra những giải pháp quyết đoán. Một mặt động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, nhưng lại có một khó khăn nảy sinh đó là đồng bào chỉ có thóc, không có gạo. Đến bữa đồng bào mới đem thóc ra giã bằng chày tay hoặc cối gạo nương. Thế là trong khi ở thung lũng Mường Thanh, lính thợ của Pháp lắp ráp xe tăng do máy bay chở đến, còn bên ngoài lòng chảo, bộ đội ta tìm những anh em biết đóng cối để đóng hàng loạt cối xay thóc.
Để có một lực lượng mạnh cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chính phủ đã phải huy động tối đa về sức người và sức của: Hàng vạn dân công và bộ đội vừa khảo sát thiết kế, vừa thi công làm đường dã chiến trong khoảng thời gian cực ngắn, chỉ với cuốc, xẻng và các dụng cụ rất thô sơ trong các điều kiện rất khó khăn trên miền núi, tuy luôn bị máy bay Pháp oanh tạc nhưng lại chỉ dùng bộc phá nổ hàng loạt rất hạn chế khi địch đánh bom.
Ngoài các đơn vị công binh của Đại đoàn công pháo 351, các Đại đoàn bộ binh khác đều tham gia làm đường do đó gặp không ít khó khăn. Để khắc phục khó khăn này, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, ngoài việc luôn tìm cách rút kinh nghiệm thường xuyên, các đơn vị còn phát động phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Đơn vị mở đường mòn theo sơ đồ đã vạch, anh em rải quân dọc theo con đường dài cả chục cây số nếu cứ đi về hằng ngày cũng mất hai tiếng đi hai tiếng về vừa mất thời gian vừa tốn sức lực. Thế là bố trí hậu cần tại chỗ để anh em bám đường làm ngày làm đêm. Để giải quyết vấn đề đói ăn, đói ngủ một cách trầm trọng trong thời gian này, các đơn vị đã tổ chức họp bàn tìm cách cải thiện điều kiện ăn ở sinh hoạt để anh em có sức khỏe công tác và chiến đấu. Để cải thiện bữa ăn dưới đơn vị có phong trào tự túc củ mài, vào rừng kiếm rau dớp, rau cải soong, bẫy chim thú về nấu ăn rất sôi nổi. Có anh xuôi thuyền nhỏ ra hồ lớn đánh cá cho đơn vị, chỉ trong nửa tháng đã đem về hàng tấn cá. Có đơn vị cử người về xuôi mua bò, lợn đánh lên không thiếu một con, không hao một cân. Khẩu phần ăn uống được cải thiện, sức khỏe bộ đội tăng nhanh.
 |
|
Làm đường phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu
|
Về sửa chữa, cải tiến dụng cụ làm đường để giảm nhẹ sức lao động của bộ đội, cấp trên yêu cầu mỗi đại đội phải tự túc ngay một lò rèn, sắt thép từ bom đạn xe cộ của ta và địch không thiếu. Trước hết là rèn dao rựa, bu-loong, xà beng sau là sửa chữa cuốc, xẻng bị mòn vẹt hư hỏng rất nhanh do cường độ lao động rất cao của bộ đội ta. Ngoài ra, các đại đội đều phải phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Bất kỳ sáng kiến kỹ thuật nào dù lớn hay nhỏ có lợi cho công việc làm đường giảm nhẹ sức lao động đều được hoan nghênh. Từ phong trào này, xe cút kít mặt trận, cần cẩu liên hoàn để chuyển đất đá ra đời và đã giảm nhẹ khá nhiều công sức của anh em, bộ đội ta có thời gian được ngủ nghỉ nhiều hơn trước. Thước đo độ dốc không có thì kiếm tấm bìa gấp lại hoặc một quyến sách với một sợi dây buộc cục đá cũng đo được độ dốc”.
Các dân công từ vùng do Việt Minh kiểm soát đi tiếp tế bằng gánh gồng, xe đạp thồ kết hợp cùng cơ giới bảo đảm hậu cần cho chiến dịch. Đội quân gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, được huy động tới hàng chục vạn người (gấp nhiều lần quân đội) và được tổ chức biên chế như quân đội.
Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cầu cho chiến dịch là đội xe đạp thồ hơn 2 vạn người, với năng suất tải mỗi xe chở được 200-300kg, kỷ lục lên đến 352kg. Những chiếc xe thồ đó chính là những chiếc xe đạp của Pháp được cải tiến thành xe thồ bằng cách buộc táp vào khung xe những thanh tre cứng để tăng khả năng thồ hàng, buộc đoạn tre vào cọc yên để đẩy, vào ghi đông để lái, thêm một chiếc giá ba chân để dừng xe dọc đường là chiếc xe có thể vận chuyển cao gấp hơn 10 lần dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Ngoài ra, xe thồ còn có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn ngoài tầm dự tính của các chỉ huy Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây khi cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy được.
Chính vì ý chí quyết chiến, quyết thắng to lớn và sức sáng tạo phi thường như vậy của quân và dân ta nên chỉ trong một tháng, bộ đội và thanh niên xung phong đã làm được một khối lượng công việc đồ sộ. Trước hết phải kể đến con đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, dài 82km, trước đây chỉ rộng 1m, đã được mở rộng và sửa sang cho xe kéo pháo vào cách Điện Biên 15km. Từ đây, các khẩu pháo được kéo bằng tay vào trận địa trên quãng đường dài 15km. Đường kéo pháo rộng 3m, chạy từ cửa rừng Nà Nham, qua đỉnh Pha Sông cao 1.150m, xuống Bản Tấu, đường Điện Biên Phủ - Lai Châu, tới Bản Nghễu, mở mới hoàn toàn. Để bảo đảm bí mật, đường được ngụy trang toàn bộ, máy bay trinh sát Pháp khó có thể phát hiện.
Để đưa 34 khẩu pháo 105mm, 40 xe kéo pháo GMC và hàng vạn viên đạn pháo 105mm cùng các trang bị đi cùng do nước bạn viện trợ từ biên giới Lào Cai về Yên Bái trong điều kiện không thể đưa bằng đường bộ, đường xe lửa khi các cầu đã bị phá, bộ đội ta đã tìm cách tháo rời cả pháo và ô tô, để đưa lên bè mảng và thuyền lớn cùng với đạn dược vượt qua bao thác ghềnh trong mùa cạn năm 1953 xuôi sông Hồng về Yên Bái để tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Không chỉ có thế, những xe ô tô GMC chiến lợi phẩm từ hậu phương cũng được tháo rời để đưa lên hàng trăm bè mảng ngược sông Thao lên Âu Lâu, Yên Bái lắp ráp lại. Từ đây đã có đường ô tô mới mở để xe ta thẳng tiến lên phục vụ mặt trận Điện Biên Phủ…
Cùng với những đòn tấn công bằng súng đạn tại Điện Biên Phủ nhằm bóc dần từng cứ điểm của "con nhím" Điện Biên Phủ, thì những trận địa giao thông hào vây lấn dày đặc như mạng nhện bao bọc lấy đồn bốt xuyên qua các hàng rào dây thép gai tiến vào tới tận lô cốt đầu cầu, cắt ngang sân bay đã làm cho con mồi không lối thoát. Những trận địa hầm hào vây lấn dài bất tận như một chiếc thòng lọng ngày càng siết chặt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tiếng xẻng, cuốc đào hầm hào vây lấn ngày càng gần mỗi đêm chính là nỗi ám ảnh kinh hoàng của quân Pháp.
Để tạo ra những hầm hào vây lấn ngay sát trận địa địch, bộ đội ta đã sáng tạo ra những “con cúi” bằng những chiếc rọ tre tròn, dài, cao tùy theo nhưng thường là dài 2m đường kính 1m nhồi đặc những thân cây gỗ hoặc thân cây chuối rừng để chắn đạn thẳng. Ban đêm, khi đội hình hàng dọc của tiểu đội tiếp cận trận địa, con cúi được lăn lên phía trước để chắn đạn cho anh em ta nằm trên mặt đất đào hào. Đến khi hào đã đủ sâu ta có thể đào ngầm dưới mặt đất, bên dưới bãi hàng rào vật cản của địch vài chục phân, thi thoảng mới có lỗ thông hơi hoặc điểm quan sát ăn lên mặt đất, nên đã hạn chế được sát thương do đạn thẳng, lựu đạn và cối pháo của địch.
Chính đoạn hầm ngầm dài 49m sâu vào lòng đồi A1, do công binh Đại đoàn 351 đào cùng với gần 1000kg thuốc nổ cũng là sự sáng tạo của quân và dân ta đã kết thúc bất ngờ cuộc giằng co quyết liệt giữa ta và địch hơn một tháng trời từ ngày 30-3 đến 20 giờ 30 phút ngày 6-5, đã góp phần quan trọng cho việc kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 lịch sử.
Các chỉ huy Pháp gọi đây là cuộc chiến tranh đường hào và thậm chí Đờ Cát còn yêu cầu Na-va gửi gấp cho ông ta tập tài liệu về “Chiến tranh đường hào” để đối phó với cuộc tấn công vây lấn bằng giao thông hào của ta nhưng cũng không giải quyết được gì, bởi sự thiên biến vạn hóa một cách sáng tạo của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ.
Chính vì những sáng tạo phi thường như vậy, mà sau này các nhà nghiên cứu của nước ngoài đã cho rằng không phải những vũ khí được viện trợ, mà chính là những cuốc, xẻng và cả những chiếc xe đạp của Pháp đã quyết định chiến thắng của Việt Nam tại Điện Biên Phủ.
Với ý chí quyết thắng cao độ và niềm tin tưởng sâu sắc vào người chỉ huy và sự sáng tạo phi thường của quân và dân ta thì bất cứ vật dụng gì dù bình thường nhất cũng trở thành những vũ khí lợi hại để đánh bại kẻ thù xâm lược.
VŨ HẢI ĐĂNG