QĐND - Kim Thánh Thán (1608-1661) là nhà mỹ học-phê bình văn học trứ danh của Trung Quốc vào cuối đời nhà Minh, đầu nhà Thanh. Ông có một sự nghiệp phê bình văn học đồ sộ, tiêu biểu là bộ Lục tài tử thư bình điểm 6 bộ sách nổi tiếng nhất của văn học cổ Trung Quốc. Ở Việt Nam, năm 1990 NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh đã xuất bản cuốn Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường do Trần Trọng San biên dịch. Nhiều thế hệ độc giả trên thế giới vô cùng khâm phục trước khả năng thẩm thơ, bình thơ sâu sắc, độc đáo, tinh tế của ông. Nhà thơ Lê Đạt nói rằng: “Thánh Thán viết lời bình đã hơn 300 năm mà tưởng đâu mới viết hôm qua, hôm kia gì đó trên một tạp chí phê bình tại Pháp những thập niên 60”. Trong quá trình bình giải thơ Đường, Thánh Thán đã bày tỏ một số quan niệm của mình về thơ. Cho đến nay, những điều ông bàn về thơ vẫn còn nóng hổi tính thời sự.

Trong lời bình giải bài thơ Chá cô của Trịnh Cốc, Thánh Thán nói rằng: “Ôi, làm thơ mà người ta không đau thương, không vui mừng thì chẳng thà không làm” (KimThánh Thán phê bình thơ Đường, trang 260). Nếu những người cầm bút ai cũng ý thức như ông thì từ xưa đến nay đỡ tốn bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian. Dù có “truyền thống”, “cách tân”, “hiện đại” hay “hậu hiện đại”… đi chăng nữa mà thơ không gây được cảm xúc cho người đọc thì cũng nên quẳng vào sọt rác. Thánh Thán không cao đàm khoát luận, không biện bạch dông dài, chỉ bằng một câu cảm thán ngắn gọn mà đã thể hiện được phần nào ý thức trách nhiệm của người cầm bút đối với công chúng. Làm thơ trước hết là truyền cảm xúc của mình cho mọi người. Khi trái tim đã trơ lì như gỗ đá thì dù có cố gắng đến mấy cũng chỉ đẻ ra một mớ chữ vô hồn mà thôi. Đúng như Hàn Mặc Tử nói: Máu đã khô rồi thơ cũng khô!

Một cảnh trong vở cải lương "Bà Chúa thơ Nôm" của sân khấu cải lương TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Thi Ca

Vấn đề muôn thuở của công việc làm thơ nói riêng và sáng tạo nghệ thuật nói chung là phải có vốn sống. Phần lớn những người cầm bút thường viết những điều mình đã từng trải nghiệm dễ dàng hơn là viết những điều mình chưa trải nghiệm. Việc bình thơ cũng vậy. Bình những bài thơ mà mình có cùng cảnh ngộ thường dễ đồng cảm hơn. Thánh Thán là người biết rất rõ điều đó khi ông hạ bút bình giải bài thơ Tảo thu Kinh Khẩu lữ bạc tặng Trương Thị Ngữ của Lý Gia Hưu: “Trong khoảng một bữa ăn, chết đến mấy chục người, cái cảnh hoang mang, quẫn bách ấy, những người chưa kinh qua loạn lạc không thể nào nằm mơ thấy được” (Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, trang 88).

Nói về nghệ thuật dùng từ của Đỗ Phủ, Thánh Thán cho rằng: Phép dùng chữ của tiên sinh (Đỗ Phủ) không chú trọng tiêm xảo (tinh khéo) mà vẫn có thể làm “rực sáng” trong mắt người đọc. Để chứng minh điều đó, ông dẫn ra một số từ rất đỗi bình dị trong Thu hứng (bài thứ 6) như: Rèm, cột buồm, dây neo… nhưng vì được dùng đúng chỗ nên những từ bình dị ấy qua bàn tay tiên sinh đã tự phát sáng (Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, trang 59). Ở bài thơ Kim Lăng hoài cổ của Lưu Vũ Tích, Thánh Thán phát hiện: Câu kết dùng vô số các từ tả sự suy tàn như cổ lũy, tiêu tiêu, lô địch… đó cũng là một điều kỳ lạ vậy (Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, trang 128). Phát hiện này cũng phần nào thể hiện quan niệm về ngôn ngữ thơ của ông hết sức linh hoạt. Thơ nói chung là phải thật kiệm lời nhưng có khi, có lúc cũng cần huy động hàng loạt từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa để làm nổi bật hay nhấn mạnh một ý gì đó.

Ở nước ta, một vài năm trước xuất hiện nhóm Mở Miệng chủ trương thơ tục, thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa… Họ đưa chuyện cứt, đái; đưa các bộ phận sinh dục vào thơ một cách tự nhiên. Họ thích thú diễn tả những cơn hứng tình, khoái lạc. Ấy thế mà vẫn có người khen hết lời, cho đó thơ là “sạch”, “đẹp”, “giàu năng lượng cảm xúc”... Theo tôi cần phải phân biệt cái tục và cái tục tĩu. Thơ Hồ Xuân Hương-Bà Chúa thơ Nôm-là thơ tục mà thanh tao biết bao, chứ đâu có tục tĩu như thơ của nhóm Mở Miệng? Nhân đây, tôi xin trích dẫn một đoạn Thánh Thán trình bày quan niệm của mình về cái “tục”, cái “ác”, cái “ngây” trong thơ để mọi người cùng suy ngẫm: “Tả nữ lang mà tả đẹp thì là tục bút, tả dâm thì là ác bút, tất yếu phải tả cái ngây mới là diệu bút. Lại nữa, tả cái ngây (si) của nữ lang mà tả nữ lang tự bảo là ngây thì là tục bút; tả nữ lang muốn người khác nói ra cái ngây của mình thì là ác bút; hẳn phải tả nữ lang ngây mà không tự cho mình là ngây mới là diệu bút” (Kim Thánh Thán phê bình thơ Đường, trang 17).

Thơ dù phát triển, đổi mới, cách tân đến mức nào cũng vẫn có những điểm chung, những điểm cốt lõi không thể vứt bỏ, vì vứt bỏ những điểm chung, những cốt lõi ấy thì không còn là thơ nữa. Quan niệm về thơ của Thánh Thán rất đáng để cho chúng ta tham khảo, nhất là trong tình hình hiện nay đang xuất hiện khá nhiều ý kiến, nhiều khuynh hướng khác nhau về thơ.

Nhà thơ MAI VĂN HOAN (26 Lê Lợi-Huế)