QĐND - Như Báo QĐND đã đưa tin, vừa qua tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương đã tổ chức Lễ trao tặng thưởng các công trình, bài viết, tác phẩm và lý luận, phê bình văn học nghệ thuật (VHNT) năm 2015. Cuốn "Luận chiến văn chương - Quyển ba" của nhà phê bình văn học Chu Giang là một trong ba tác phẩm được trao tặng thưởng loại A.

Báo cáo kết quả xét chọn tặng thưởng năm 2015, Giáo sư, Tiến sĩ (GS, TS) Đinh Xuân Dũng - Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT Trung ương; Chủ tịch Hội đồng Xét tặng thưởng năm 2015 - nêu rõ: Đây là tặng thưởng của Ban Bí thư Trung ương Đảng giao cho Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT Trung ương thực hiện; nhằm khẳng định, cổ vũ những tác phẩm lý luận, phê bình phục vụ trực tiếp cho định hướng lãnh đạo của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực VHNT. Các tác phẩm được tặng thưởng là những công trình, bài viết có giá trị khoa học, có đóng góp về lý luận và thực tiễn, có tác dụng tích cực, kịp thời trước những vấn đề xã hội quan tâm, có tính thời sự trong đời sống VHNT, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, định hướng của Đảng và Nhà nước; có tác dụng trực tiếp góp phần định hướng sáng tác và tham gia có hiệu quả phản bác các quan điểm sai trái, lệch lạc trong VHNT. "Luận chiến văn chương - Quyển ba" của Chu Giang là một trong những tác phẩm đã đạt được những yêu cầu trên đây!

Nhà phê bình văn học Chu Giang tên thật là Nguyễn Văn Lưu, nguyên Giám đốc NXB Văn học, hiện nay đã nghỉ hưu ở Hà Nội, nhưng ngòi bút phê bình văn học của ông vẫn khá sung sức. "Luận chiến văn chương" là bộ tác phẩm chủ yếu trong sự nghiệp phê bình văn học của ông, được định danh theo thứ tự từ Quyển một đến Quyển ba và đều do NXB Văn học ấn hành trong vòng 20 năm qua. "Luận chiến văn chương - Quyển một" xuất bản năm 1995, đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1996 và đến nay đã được tái bản đến lần thứ ba. "Luận chiến văn chương - Quyển hai" xuất bản năm 2012, được tặng thưởng loại B năm 2013 của Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT Trung ương. "Luận chiến văn chương - Quyển ba" xuất bản năm 2015, tập hợp những bài viết của Chu Giang trong khoảng ba năm gần đây; trong đó có những “xê-ri” bài viết chỉ tập trung bàn luận về một vấn đề, hiện tượng thời sự không chỉ nổi cộm trong đời sống văn học, mà còn trên các lĩnh vực chính trị - xã hội, như: Vấn đề “giải thiêng lịch sử” trong VHNT; bản chất “ngụy khoa học” trong luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên); đánh giá công và tội của Phạm Quỳnh; hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong “văn học đổi mới” v.v… Ngoài ra, sách còn có nhiều bài viết tranh luận về một số quan điểm sai trái, lệch lạc trong VHNT của một số cây bút và nhân vật đương thời.

Nhà phê bình văn học Chu Giang. (Ảnh: Thiết Thạch)

Đúng như tên gọi của bộ sách, "Luận chiến văn chương - Quyển ba" tiếp tục phát huy tính chiến đấu không khoan nhượng của Chu Giang, một cây bút luôn xông xáo trước những vấn đề thời sự văn học, dám “đương đầu” với những “đối thủ” là những cây bút tên tuổi đã có quá trình trước tác đáng nể. Chẳng hạn trong loạt bài bàn về xu hướng đòi “phục hồi”, “minh oan” cho học giả Phạm Quỳnh, Chu Giang cho rằng về bản chất, Phạm Quỳnh là nhân vật chính trị. Câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn thì tiếng Việt còn, tiếng Việt còn thì nước ta còn” là một kiểu mị dân mượn danh văn hóa. Đánh giá thật công bằng thì Phạm Quỳnh là một trí thức có ít nhiều công lao đối với văn hóa dân tộc. Tiêu biểu là trong thời gian làm chủ bút Báo Nam Phong, Phạm Quỳnh đã cho đăng các bài khảo cứu về văn hóa dân tộc, về thường thức văn học, về kho tàng văn học dân gian… Đặc biệt là Phạm Quỳnh đã cho đăng công trình "Nhân đạo quyền hành" của cố nhà nho Hồ Phi Huyền (nhạc phụ của cố GS Đặng Thai Mai) và suy tôn Hồ Phi Huyền là bậc "thạc nho" (nhà nho lớn). Cũng qua Tạp chí Nam Phong, bạn đọc thời đó có điều kiện để trau dồi chữ quốc ngữ và tiếp thu văn hóa phương Tây. Những đóng góp đó là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên cũng cần xác quyết rằng, Tạp chíNam Phong là công cụ văn hóa của chính quyền thực dân. Toàn bộ hoạt động của Phạm Quỳnh do thực dân sắp đặt và kiểm soát. Ông được Pháp đào tạo công phu và sử dụng có bài bản. Về phía Phạm Quỳnh, cũng cần thấy rằng ông ta làm công việc được “sắp đặt” ấy một cách tự nguyện và nhiệt tình. Chu Giang đã đưa ra những căn cứ và phân tích một cách hết sức thuyết phục về tinh thần tự nguyện, sốt sắng phục vụ trên đây của Phạm Quỳnh. Hiện nay, một số người chỉ muốn đánh giá Phạm Quỳnh ở mặt hoạt động văn hóa mà lẩn tránh hoạt động chính trị, nhưng hoạt động chính trị mới là mục đích của Phạm Quỳnh.

Cũng với cách tiếp cận và những lập luận sắc sảo như trên, Chu Giang đã có loạt bài phản bác lại quan điểm của một số người cố tình đề cao quá mức tinh thần “bất bạo động” và chủ trương chỉ tập trung vào “dân trí, dân khí, dân sinh” của cụ Phan Chu Trinh nhằm phủ nhận công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bằng bạo lực cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những bài “luận chiến” như thế đã vượt ra khỏi phạm vi VHNT đơn thuần mà đó là những vấn đề văn hóa - chính trị quan trọng, cần phải minh định rõ ràng đúng - sai, chính - tà. Chẳng hạn như loạt bài ông viết về bản luận văn thạc sĩ của học viên Đỗ Thị Thoan, đăng trên các báo hồi đầu năm 2013 và được tập hợp trong cuốn sách này. Nhờ sự phát hiện nhạy bén và chính xác ấy mà dư luận được biết đến một xu hướng “học thuật” ở một trung tâm sư phạm hàng đầu của nước ta và các cơ quan chức năng đã sớm vào cuộc. Sự việc đã được khép lại với việc hủy bỏ kết quả chấm luận văn, thu hồi bằng thạc sĩ của học viên. Qua đây, bạn đọc cũng thấy được tinh thần quyết liệt nhưng rất đúng mực của Chu Giang. Theo ông, bản luận văn ấy chỉ như một bài tập, một sản phẩm học nghề. Nếu hỏng thì cần loại bỏ và cơ hội học tập, nghiên cứu khoa học của Đỗ Thị Thoan vẫn còn rộng mở.

Phê bình văn học của Chu Giang có một phong cách riêng, một giọng điệu riêng: Thẳng thắn, quyết liệt, không né tránh nhưng đôi khi lại rất hài hước, dễ nghe, dễ tiếp nhận. “Luận chiến” về văn chương mà tự nhiên như văn nói. Ông thường dùng ca dao, thành ngữ, tục ngữ, điển tích, điển cố… một cách đắc dụng nên đọc “luận chiến” mà không cảm thấy căng thẳng, nặng nề, “đao to búa lớn”. Chẳng hạn bài "Văn sư tử và văn cầy cáo" vừa phân tích thấu đáo những ngộ nhận về thời thế của một bậc lão thành từng có công lao trong kháng chiến trước đây; vừa dí dỏm, hài hước khiến người bị phê bình thấy phần nào được sẻ chia, thông cảm:

Kìa văn sư tử cao sang thế

Văn cáo cầy sao nó hạ hèn

Thỏ chết, đời thương cho kẻ yếu

Cáo cầy, sư tử chúng reo vui…

Bộ "Luận chiến văn chương" lần lượt từ Quyển một đến Quyển ba đều được giải thưởng của những cơ quan VHNT uy tín hàng đầu nước ta hiện nay. Điều đó cho thấy Chu Giang dồn tâm sức, trí tuệ và nhiệt huyết rất lớn cho công việc phê bình văn học, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, lệch lạc trong lĩnh vực VHNT. Đọc "Luận chiến văn chương", thấy Chu Giang cẩn trọng chắt lọc từng câu, từng chữ trong diễn đạt nội dung tư tưởng của mình. Đó cũng là một đóng góp đáng kể nữa của Chu Giang cho nền văn học nước nhà, thông qua bộ sách tâm huyết này của ông.

BÙI ĐỨC THỌ