Hôm nay, thành phố như khoác lên mình một chiếc áo mới, chậm rãi và yên tĩnh hơn. Cơn mưa bất chợt lúc sáng sớm khiến không khí trở nên mát lành và thanh khiết. Một vạt gió se sẽ lướt qua. Cây lộc vừng già rung lên, vài chiếc lá đỏ quạch rớt xuống mặt đường còn ướt nước trông như những vết son nhòe. Quán cà phê vắng, nhạc Trịnh không lời dặt dìu tha thiết. Tôi chậm rãi châm thuốc hút, mắt lơ đãng nhìn xuống vỉa hè xao xác lá. Chợt có tiếng chuông điện thoại vang lên từ phía bàn đối diện, thứ âm thanh đơn điệu của công nghệ thập niên trước. Một cụ ông tóc bạc, gương mặt đôn hậu, cất giọng trầm ấm: “Ừ, ông nghe đây. Tối nay mấy giờ máy bay hạ cánh hả con? Ừ... Ông sẽ ra sân bay đón mấy đứa... Ông vừa mua được mấy gói xôi cốm đây rồi, loại nhiều hạt sen mà con thích nhất đấy. À, mua nữa để mang đi hả?”.

Ông dừng lại một chút, chăm chú nghe người ở đầu dây bên kia nói, nụ cười hiền từ, ánh mắt lấp lánh niềm hạnh phúc của sự đợi chờ. “Được rồi, đi đường cẩn thận nhé, nhớ uống thuốc chống say xe đấy. Ừ... Ông chờ...”.

Ông cụ tắt máy, cẩn thận cất điện thoại vào chiếc túi vải màu nâu sậm. Hai tiếng “ông chờ” giản dị mà lại vững vàng như một điểm tựa để những đứa con, đứa cháu tìm về sau những tháng ngày tha hương biền biệt.

Tôi xoay xoay tách cà phê, khói thuốc vẩn vơ tan trong nắng. Rất lâu rồi tôi mới có những giây phút thảnh thơi như thế này. Và tôi chợt tự hỏi, giữa thành phố đông đúc ồn ào này, liệu có bao nhiêu người có một chốn để trở về? Tôi tưởng tượng ra sự trở về của họ là một hành trình chật vật với những đoạn đường tắc nghẽn dưới cái nắng gay gắt. Và khi đặt chân về đến nhà, sau những lời hỏi han quan tâm vồn vã sẽ lại là những câu hỏi quen thuộc khiến họ thoáng chút khó chịu: “Bao giờ lấy vợ/lấy chồng?”; “Lương tháng này được bao nhiêu?”; “Sao dạo này gầy/béo thế?”... Dẫu cho bữa cơm có thêm gia vị là những lời trách móc, những bất đồng quan điểm, nhưng sau đó họ lại được ngả lưng xuống chiếc giường quen thuộc, vùi mặt xuống lớp chăn nệm thơm mùi nắng và tạm quên đi những áp lực bon chen. Họ sẽ có những cuộc thăm thú họ hàng chớp nhoáng hoặc có khi là những giấc ngủ nướng hiếm hoi. Rồi sau mấy ngày nghỉ họ lại tất tả lên đường. Trên những chiếc xe trở về thành phố ấy, có biết bao sắc màu giản dị mà chất chứa ân tình quê hương. Sau xe là những lục cục gà, roi rói rau, ngọt ngào quả. Bao nhiêu tươi ngon của mảnh vườn quê đều được gói ghém dụm dành từ bàn tay của người mẹ tảo tần, của người chị thảo tính hay đứa em gái chu đáo. Đáp lại những lời dặn dò tha thiết là lời hứa hẹn ngày trở về. Những giây phút bần thần lưu luyến, xe lăn bánh rồi mới nhìn vào trong gương, nghẹn ngào thấy bóng người thân đứng tần ngần trước cổng, mái tóc bạc lẫn trong chiều chạng vạng, bảng lảng xa dần như khói như sương...

Lại một vạt gió thốc tới, vài chiếc lá lộc vừng lác đác rơi, có chiếc chao nghiêng, xoay một vòng trong nắng rồi đáp xuống ngay dưới chân tôi. Tôi bỗng thấy lòng mình hoang hoải bâng khuâng. Có những chiếc lá phải lìa cành để biết mình đã từng thuộc về một thân cây giống như có những con người phải đi rất xa mới thấu hiểu giá trị của sự trở về. Và cũng có những người phải mất gần cả một đời mới nhận ra điều quý giá nhất không phải là những tiền bạc vinh hoa có được mà là còn được nghe một lời mời gọi tha thiết của người thân.

Tôi gắn bó với thành phố này đã hơn mười năm, có một công việc yêu thích với mức lương khá ổn định, có vài người bạn đủ thân thiết để sẻ chia, có một căn phòng nhỏ trên tầng mười sáu đủ để “an cư”. Nhưng cứ mỗi khi kỳ nghỉ lễ, từ vài ngày trước, không khí trong văn phòng đã trở nên xôn xao, đồng nghiệp í ới hỏi nhau: "Về quê hay đi đâu chơi?", "Đặt vé xe chưa?", "Bao giờ thì lên?", "Nhớ mang quà quê nhé!", "Đi sớm kẻo tắc đường"... Những lúc ấy, tôi thường kiếm cớ lảng đi chỗ khác. Nếu tôi bảo rằng mình không về quê cũng chẳng đi đâu, có khi người ta sẽ nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên hoặc cười giễu: “Chắc ở lại trực để nhận 200% lương?”.

leftcenterrightdel
Minh họa: LÊ ANH 

Căn nhà thơ ấu của tôi chẳng còn là một gia đình từ năm tôi học lớp 6. Sau một biến cố, cha mẹ tôi mỗi người một ngả, họ mải miết tô màu hạnh phúc cho những ngôi nhà mới ở hai phương trời khác nhau. Tôi trở thành mảnh ghép thừa thãi trong bức tranh hạnh phúc của chính những người sinh ra mình. Cha ra nước ngoài cùng người vợ mới. Mẹ thì theo chồng vào Nam lập nghiệp. Tôi ở lại cùng ông nội, một người ông yêu cháu bằng những lời giáo huấn cứng nhắc, những quan niệm cổ hủ, khắt khe. Tôi học xong đại học nhờ cuốn sổ tiết kiệm còm cõi của ông và những tháng ngày đi làm thêm triền miên. Khi ông nội mất, cha đưa dì Loan và em Dương về quê. Tôi nhìn đứa em trai da trắng hồng như con gái chẳng thấy gợn lên một chút thân thuộc nào. Lo hậu sự của ông xong, cha và dì ngồi bàn tính việc bán nửa mảnh vườn để hùn vốn cho một phi vụ làm ăn mới. Cả nhà ngồi ăn với nhau một bữa cơm hiếm hoi nhưng lại gượng gạo như những người khách trọ. Tôi xách ba lô đi, thấy lòng rỗng tuếch, xa lạ với chính những người cùng máu mủ, chẳng còn cả cảm giác tủi thân vì thấy mình thừa thãi nữa...

Cà phê đắng ngắt trong miệng và lợn cợn nơi đầu lưỡi. Tôi dúi điếu thuốc hút dở vào chiếc gạt tàn sém lẹm.

Cụ ông bàn bên nghe thêm một cuộc điện thoại nữa rồi chậm rãi đứng dậy, túi cốm lúc lắc theo từng nhịp bước thong thả xuống cầu thang. Hai tiếng “Ông chờ” vương lại trong tâm trí tôi những cảm xúc thật khó tả. Vừa ấm áp tha thiết, vừa chống chếnh miên man.

Tôi trở về căn phòng nhỏ của mình, đứng rất lâu trước chiếc tủ quần áo rồi bần thần ngồi xuống mở ngăn kéo dưới cùng, nơi tôi đã cố tình nhét sâu vào đó một chiếc hộp gỗ nhỏ và từng nghĩ rằng chỉ cần giấu nó khỏi tầm mắt mình thì có thể giấu được cả một vùng ký ức u buồn. Chiếc khóa nhỏ xíu bật lên một tiếng "tách" khô khốc. Bên trong là vài tấm ảnh đã ngả màu và một phong thư cũ. Những dòng chữ nghiêng ngả, run rẩy như thể mỗi con chữ đều đã chằng níu rất nhiều cung bậc cảm xúc trước khi hiện lên trang giấy.

Bức thư ấy cha gửi cho tôi cách đây hơn ba năm. Tôi từng đọc nó một lần, đọc trong tâm thế của một đứa con bị bỏ rơi. Khi ấy, những lời lẽ rời rạc trong thư chỉ khiến tôi thêm bải hoải rã rời, len lỏi cả một chút hả hê ích kỷ. Tôi đã gấp nó lại, cất vào chiếc hộp này và tự nhủ rằng thời gian sẽ khiến mình nguôi ngoai. Nhưng không, thời gian chỉ phủ lên vết thương lòng một lớp bụi mỏng, để rồi chỉ cần vô tình chạm vào, tất cả lại nhoi nhói đau như chưa từng được chữa lành.

Tôi đọc lại từng dòng, thấy ngực mình như có tảng đá chèn ngang, nghèn nghẹn, xa xót: “Cha bị lừa con ạ. Thằng bé ấy không phải là giọt máu của cha...”.

Năm ngoái, cha về quê, sống một mình trong căn nhà trống hoác. Cha có gọi điện cho tôi, nhưng tôi chỉ trở về một lần vào ngày giỗ ông nội rồi lại lặng lẽ rời đi. Tôi vin vào công việc bận rộn, nhưng sâu xa hơn, có lẽ tôi đã vin vào lòng tự ái của chính mình. Tôi nghĩ mình có quyền giận cha, có quyền giữ khoảng cách để khiến ông phải trả giá cho những điều đã làm tôi tổn thương.

Bây giờ, ngồi một mình giữa căn phòng chật hẹp, tôi mới cảm nhận rõ một nỗi sợ rất sâu mà bấy lâu nay mình cố che giấu. Tôi sợ phải trở về căn nhà cũ, sợ phải đối diện với dáng vẻ tiều tụy của cha sau những tháng ngày đợi chờ vô vọng, ngằm ngặp nỗi dằn vặt khôn nguôi.

“Cha mất tất cả rồi... Bao nhiêu vốn liếng tan sạch. Cũng may là không vướng lao lý... Đời cha thất bại thật rồi...”.

Nét chữ của cha nhòe đi, xa xót, thê lương.

Có lẽ những ngày tháng qua, không chỉ cha phải sống một mình trong căn nhà trống hoác mà chính tôi cũng đang phải sống một mình trong khoảng trống thăm thẳm của lòng mình. Chúng tôi, hai người đàn ông cô độc cùng ôm trong lòng những nỗi niềm thật khó sẻ chia, để mặc thời gian lặng lẽ trôi trên mái tóc điểm bạc và những cơ hội trở về ngày một ít đi.

Tôi chợt hiểu rằng có những khoảng cách không được đo bằng những cung đường vời vợi mà đo bằng một câu nói còn mắc nghẹn trong lồng ngực bởi sự tự ái, mặc cảm, day dứt. Tôi nén tiếng thở dài, lần trong danh bạ điện thoại. Những dãy số lướt qua chậm rãi. Tay tôi run run dừng lại ở số của cha. Tôi toan nhấn máy thì điện thoại nhấp nháy tin nhắn. “Mấy ngày nghỉ lễ, con có đi đâu không?”. Đọc dòng tin nhắn e dè của cha, lần đầu tiên, tôi tin vào “thần giao cách cảm” của những người cùng chung huyết thống...

Như có một sự thúc giục vô hình, tôi đứng dậy với lấy chiếc ba lô, nhét nhuế nhóa vào đó mấy bộ quần áo và nhấn máy gọi taxi ra bến xe thành phố.

Những tòa nhà cao tầng, những biển hiệu quảng cáo xanh đỏ lùi dần về phía sau. Xe lướt qua những con đường rợp bóng cây rồi đi về phía ngoại ô. Tôi ngả đầu vào thành ghế, nhắm mắt lại và hồi tưởng những hình ảnh từng ghim sâu trong tiềm thức. Một căn nhà cũ mái ngói hoen rêu sau bao mùa mưa nắng, cây nhãn cổ thụ phủ bóng xuống khoảnh sân mòn lõm, cây khế gầy guộc vẫn lặng lẽ trổ hoa bên cánh cổng sắt hoen gỉ. Tất cả những hình ảnh ấy tôi đã từng cố quên nhưng giờ chợt cồn lên, da diết đến nao lòng.

leftcenterrightdel
Tác giả Tạ Thị Thanh Hải. 
“Trở về” là tác phẩm gợi nhiều suy ngẫm về tình thân, cội nguồn và ý nghĩa của sự trở về trong cuộc đời mỗi con người. Với giọng văn nhẹ nhàng, giàu cảm xúc, tác giả mở ra những khoảng lặng để người đọc lắng nghe tiếng nói sâu kín của tâm hồn, nơi những yêu thương bình dị đôi khi bị khuất lấp bởi nhịp sống bộn bề lo toan và những lựa chọn của cuộc đời. Với những chi tiết giàu sức gợi, tác phẩm khơi dậy trong lòng người đọc sự trân trọng mái ấm gia đình và những điều bình dị mà quý giá. “Trở về” không chỉ là tìm lại một chốn đi về mà còn là hành trình con người đối diện với chính mình, nhận ra giá trị của tình yêu thương và lòng bao dung. (Nhà văn PHÙNG HẢI YẾN)
Truyện ngắn của TẠ THỊ THANH HẢI