Tôi giậm chân đánh động. Một người đàn ông chừng ngoài bốn mươi dừng tay gỡ gạch mộc từ khuôn gạch ra, ngước mắt nhìn lên. Người đàn ông ấy mới đầu nhìn lên như chỉ để nhận biết có người lạ đang đến. Nhưng rồi như có điều gì đó khiến người đàn ông ấy ngẩng phắt lên. Anh nhìn tôi chằm chằm rồi hỏi to: “Cậu có phải là Hoàng không?”.

Câu hỏi làm tôi khựng lại. Tôi cũng nhìn chằm chằm vào người đàn ông ấy. Anh ta đứng thẳng lên và gỡ chiếc nón ra khỏi đầu. Tôi hét to ngạc nhiên: “Anh Quang! Anh Quang Đại đội trưởng!”. Người đàn ông ấy nở nụ cười: “Đúng rồi. Đúng là cậu Hoàng nhà thơ ở bê hai rồi”.

Tôi tình cờ gặp lại anh Quang Đại đội trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Không có sắp đặt. Chỉ có sự tình cờ như số phận mách bảo. Vẫn còn vòng tay ôm chặt người tôi, anh Quang hỏi ngắn: “Cậu biết mình ở đây à?”. Tôi trả lời: “Không ạ. Em có việc vào làng Mai phía trong kia. Mà làm thế nào anh lại ở đây. Lại trong hoàn cảnh này?”.

Hè năm 1985, sau bốn tháng huấn luyện chiến sĩ mới, tôi được điều về Đại đội Phòng hóa của quân khu. Đại đội đóng quân ở cơ quan Ban chỉ huy quân sự huyện Kim Động. Một buổi sáng đích thân Đại đội trưởng Ngô Tuấn Quang xuống Trung đội 2, anh bảo tôi lên xê bộ nhận nhiệm vụ. Tôi thấp thỏm không biết đó là nhiệm vụ gì. Anh Quang rót cho tôi chén nước chè nóng và nói: “Tớ nghe anh em đồn là cậu làm thơ, vẽ tranh rất đẹp?”. Tôi thật thà: “Báo cáo Đại đội trưởng, em cũng chỉ vẽ vời thơ phú nhì nhằng thôi ạ”. Anh Quang chẳng quan tâm đến câu trả lời của tôi mà nói luôn: “Sắp tới kỷ niệm ngày sinh nhật Bác. Đại đội giao cậu “chủ trì” làm một tờ báo tường của Đại đội thật oách. Nhớ nội dung là: Chiến sĩ Đại đội Phòng hóa học tập tấm gương Bác Hồ vĩ đại”.

“Rất dứt khoát và đi thẳng vào việc”, tôi thầm nhận xét về người Đại đội trưởng của mình. “Anh ấy đã tin tưởng như thế thì mình phải hoàn thành thôi”. Tuy đã nhận nhiệm vụ nhưng tôi cũng lo lo. Thấy vẻ mặt tôi còn băn khoăn nên anh Quang nói nhỏ: “Phó đại đội trưởng về chính trị đã phổ biến rất kỹ cho các trung đội rồi. Cậu chủ trì có nghĩa là hô hào anh em tham gia và đứng ra thu gom bài vở. Nói thật với cậu, các cậu cùng lứa với nhau nói chuyện với nhau dễ hiểu hơn, mà như thế nội dung mới chân thật, đúng như lính trẻ suy nghĩ”.

leftcenterrightdel
Minh họa: MAI MINH 

“Mà sao em lại gặp anh trong hoàn cảnh này nhỉ?”-Tôi bứt ra khỏi dòng hồi tưởng-“Thật đúng như các cụ ta hay bảo: Một ngày đẹp trời nên hữu duyên”. Dù đã có ý tứ nói tránh nhưng tôi vẫn hỏi cho ra nhẽ. Anh Quang cười. Cười mỉm, cười thầm rồi bảo: “À mà giờ cũng sắp tới trưa rồi. Ở lại đây ăn cơm cùng cánh lò gạch bọn mình”. Anh Quang nhấn mạnh câu “cánh lò gạch bọn mình”, câu nói ấy vừa chính thức công nhận công việc hiện tại vừa không hề có ý lảng tránh, nhất là việc “giữ” tôi ở lại ăn cơm trưa cùng. Hành động chân thật ấy đúng y như mười năm trước khi tôi được anh gọi lên giao nhiệm vụ.

Bữa trưa diễn ra nhanh gọn nhưng chan hòa. Xong bữa tôi xin phép đi tiếp vào làng Mai. Anh Quang bảo: “Xong việc cậu nhớ quay lại đây với bọn mình nhé”. Tôi chẳng chút nghĩ ngợi: “Tối nay em không về Hà Nội nữa. Em ở lại đây ngủ cùng các anh”. Anh Quang mừng ra mặt. Anh lại tiến tới ôm chặt tôi. Bấy giờ tôi mới nhận thấy cái mùi đất ngái nồng ẩm từ chiếc áo của anh.

Buổi tối ngoài bãi sông gió mát như đàn. Gió sông thổi lên. Gió đồng thổi tới. Trên vòm trời chi chít những vì sao nhấp nháy. Chúng tôi cùng leo lên ngồi trên mấy tấm ván kê làm sàn ngủ. Cánh thợ người làng đã về từ chập tối. Chỉ còn lại tôi với anh Quang cùng Lâm-em vợ của anh Quang. Lâm còn trẻ, tính thật thà và ít nói. Vả lại, cậu biết nên dành thời gian cho anh em chúng tôi hàn huyên. Lâm lúi húi cời bếp nấu cho chúng tôi ấm nước sôi pha chè. Nấu nước xong, Lâm lại lúi húi rang nắm lạc, cậu bảo: “Để lát các anh nhâm nhi chén rượu”.

“Cậu Hoàng này. Cậu kể về mình đi. Mười năm anh em mình mới gặp lại nhau. Tớ muốn biết về cậu hiện nay thế nào?”. Đúng y như những ngày ở Đại đội Phòng hóa. Bao giờ Đại đội trưởng cũng là người lên tiếng hỏi han trước. Tôi bảo: “Hay là hôm nay anh kể về mình trước đi. Em nghe nói là anh đã lên Đại úy rồi kia mà?”. Tôi hỏi với ý hoài nghi. Anh Quang cười lắc lắc đầu: “Cậu là cấp dưới nên cậu báo cáo trước”.

Quá có lý, tôi trả lời: “Sau khi anh chuyển đơn vị khác được hai năm thì em xuất ngũ. Em về ôn thi đại học, học xong em đi làm báo. Làm báo làng nhàng thôi nhưng được cái hay đi đây đi đó. Thế mới có chuyện sáng nay em về làng Mai tìm hiểu viết bài về nông thôn sau mấy năm đổi mới. Thế mới có chuyện một ngày đẹp trời anh em mình tình cờ hội ngộ chứ. Báo cáo Đại đội trưởng. Em nói xong rồi ạ”.

Anh Quang vỗ vỗ vào vai tôi mấy cái: “Nào. Mời chiến hữu làm chén rượu”. Chúng tôi cùng chạm chén. Tiếng chén chạm vào nhau đánh cạch nghe như một câu khẳng định. Anh Quang nháy mắt ý bảo tôi uống cạn. Tôi chấp hành ngay và thật thà: “Rượu này em nhớ không nhầm thì là rượu Trương Xá đúng không anh?”. Anh Quang cười to: “Cậu vẫn nhớ làng Trương Xá ngay nơi đại đội mình đóng quân. Rượu Trương Xá nước nhờ nhờ như nước gạo loãng nhưng uống vào thun thút đúng không?”.

“Tớ về phục viên. Hưởng chế độ bệnh binh cậu ạ”-Anh Quang đột nhiên bộc bạch, không vòng vo, không giấu giếm. Nghe anh Quang nói vậy, tôi tròn mắt ngạc nhiên. Thật không tin nổi. Hay là anh Quang “thử lòng” tôi.

Cứ để tôi đần mặt ra không hiểu một lát rồi anh Quang mới nói tiếp: “Năm kia tớ cùng tiểu đoàn về Nam Định giúp dân chống bão. Loạng quạng thế nào mà khi tớ đang cùng mấy cậu chiến sĩ trèo lên mái nhà dùng bao cát để nèo mái thì một luồng gió quật mạnh. Tớ ngã xuống, gãy mấy xương sườn”.

“Điều trị mấy tháng thì tàm tạm nhưng sức khỏe không đủ phục vụ trong Quân đội nữa. Thế là tớ phục viên hưởng chế độ bệnh binh”-Anh Quang cười hồn nhiên-“Nhà đang neo người. Đóng quân ở mãi Quảng Ninh. Ít về thăm vợ con được”. Tôi nói xen ngang: “Em nhớ rồi. Anh lấy vợ đâu như hồi em mới về Đại đội”. Anh Quang gật đầu: “Các cụ nhà tớ cứ giục giã suốt. Vậy là tớ tặc lưỡi cưới cô công nhân xí nghiệp bao bì ở gần quê tớ. À mà này. Quê vợ tớ ở ngay gần đây. Làng Khúc chỉ cách đây một thôi đường đồng”.

Dừng lại một chút làm thêm chén rượu. Anh Quang khà một tiếng vẻ mãn nguyện. Tôi bắt đầu phân vân lảng mắt nhìn ra ngoài bãi sông. Tầm này bãi sông vắng lặng. Trời tối mìn mịt. Gió thổi như mạnh hơn. Tiếng gió luồn qua mái tranh kêu rin rít. Tôi ấp úng: “Sao anh? Anh không...?”. Anh Quang như lờ đi câu hỏi lửng của tôi, dường như anh biết tôi muốn hỏi “Sao anh không “chạy” suất thương binh?”. Anh nói tiếp: “Cầm món tiền trợ cấp bệnh binh cộng với số tiền đền bù mấy sào ruộng... Quê tớ ven đường số 5 nên dự án đổ về ầm ầm. Ruộng vườn vào dự án hết, nghĩa là về quê mình cũng chẳng có ruộng để làm lụng”. Tôi láu táu: “Sao anh không dùng số tiền đó làm vốn kinh doanh hay đầu tư gì gì đó vừa sinh lãi vừa nhàn thân?”. Anh Quang trợn mắt: “Không được. Mình đâu biết kinh tế kinh teo thế nào đâu”. Tợp một ngụm rượu kiểu nhấp môi, anh Quang bảo: “Mình là nông dân đi bộ đội mà. Hết bộ đội thì về quê làm nông dân”.

Tôi nói ngang: “Nhưng anh có còn ruộng vườn đâu để làm nông dân?”. Anh Quang gạt tay: “Nông dân đâu cứ phải là làm ruộng. Mình gắn bó với đất nên làm cái gì sinh ra từ đất ấy. Tớ nghĩ thế nên nghỉ ngơi vài bữa thì về thăm bố mẹ vợ. Cũng cuộc chuyện bàn bên chén rượu Trương Xá như thế này. Mấy cậu em vợ nói luôn: “Bác về quê đi. Ngoài bãi sông xã đang có chủ trương cho người trong xã khai thác đất bãi làm gạch. Bác về quê cùng bọn em làm gạch”. Nghe cũng có lý. Tớ gật đầu luôn. Hùn chút vốn hẻo với mấy cậu em xin xã mở lò gạch. Mấy năm trở lại đây, nhu cầu xây dựng tăng cao. Gạch sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Lò gạch này anh em tớ mới cho ra lò được ba mẻ. Bán được. Triển vọng lắm”.

“Nhưng anh có biết làm gạch đâu?”, tôi lo lắng hỏi. “Không biết thì học. Học người biết nghề rồi làm theo. Cứ mạnh dạn làm”. Nghe anh Quang nói thế, tôi á ra và nói: “Em nhớ rồi. Những hôm đơn vị huấn luyện chuyên môn phòng hóa cho chiến sĩ, em luôn thấy anh có mặt từ sớm và rất đều”. Anh Quang gật gật đầu. “Mà em vẫn nhớ là anh cũng sổ tay ghi chép, cũng ngồi trật tự nghe “giáo viên” lên lớp. Anh học chăm chú và học thật”.

“Phải học thật chứ. Mình chỉ huy không học thật, làm thật thì làm sao các cậu nghe”.

Chai rượu Trương Xá vơi đi phân nửa. Chúng tôi cùng đứng dậy bước ra ngoài bãi sông. Trên trời chi chít những vì sao nhấp nháy báo hiệu ngày mai trời nắng đẹp.

leftcenterrightdel
Tác giả Nguyễn Trọng Văn. 

Trong các truyện ngắn viết về người lính, dường như Nguyễn Trọng Văn đã khai thác đúng thế mạnh của mình. Từ những quan sát tinh tế, xây dựng cốt truyện, xung đột kịch tính, tính cách nhân vật và các thông điệp được đưa ra trong mỗi truyện ngắn về người lính của ông ngày càng chắc tay và có chiều sâu văn học. Truyện ngắn “Ngày đẹp trời” là một trong số đó. Cung bậc cảm xúc và nhất là ngôn ngữ lính tráng đã tạo dựng không khí truyện tự nhiên và hấp dẫn người đọc. Đó cũng là điều đáng ghi nhận ở mảng đề tài người lính của ông. 

Truyện ngắn của NGUYỄN TRỌNG VĂN