Lịch sử nước ta từ khi thực dân Pháp xâm lược đã liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa do các văn thân, sĩ phu và các nhà yêu nước lãnh đạo, nhưng đều không thu được kết quả. Các cuộc khởi nghĩa đó hoặc nhanh chóng bị dìm trong bể máu, hoặc lụi tàn dần.
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, nguồn gốc nông dân ở một vùng quê nghèo khó nhưng giàu truyền thống cách mạng, lớn lên trong cảnh “nước mất nhà tan”, Nguyễn Sinh Cung-Nguyễn Tất Thành sớm có ý chí chống ngoại xâm. Nguyễn Tất Thành vô cùng khâm phục các bậc tiền bối, nhưng không tán thành cách làm của ai cả. Nguyễn Tất Thành từng suy nghĩ: Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương. Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp, nhưng cụ còn nặng cốt cách phong kiến.
Nhờ học các trường Pháp ở Vinh, rồi kinh đô Huế, Nguyễn Tất Thành sớm phát hiện những tư tưởng tiến bộ ở phương Tây, nhất là khẩu hiệu "tự do, bình đẳng, bác ái" (liberté, égalité, fraternité) của cách mạng Pháp treo trong lớp học, điều đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành muốn đến tận nơi để xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy.
Nguyễn Tất Thành đã từng rủ người bạn thân cùng ra đi tìm con đường giải phóng, vì nghĩ đi hai người để phòng bất trắc khi ốm đau. Nhưng rồi người bạn đó vì nặng gánh gia đình nên đến phút cuối đã từ chối. Ngày 5-6-1911, một mình Nguyễn Tất Thành xin làm chân phụ bếp trên con tàu thương mại của Pháp, rời Tổ quốc ra đi từ bến cảng Nhà Rồng. Đây là việc làm có chủ đích, suy nghĩ thấu đáo của Nguyễn Tất Thành. Bởi khi đó Nguyễn Tất Thành đã 21 tuổi-cái tuổi đã có thể tự suy nghĩ, tự quyết định tương lai của mình. Bình thường, nếu chấp nhận hoàn cảnh hiện tại, với uy tín của con ông Phó bảng từng làm tri huyện, với trình độ của mình, Nguyễn Tất Thành có thể dễ dàng tìm được công việc ở trong nước. Nguyễn Tất Thành cũng sẽ có gia đình riêng, vợ con đề huề, êm ấm. Nhưng Nguyễn Tất Thành đã bỏ lại tất cả. Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi, dám dấn thân vào con đường chông gai, gian khổ không phải để kiếm sống, không phải vì cuộc sống cá nhân, mà với động cơ thật vĩ đại. Sau này, Nguyễn Tất Thành từng bộc bạch: "Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta".
Việc Nguyễn Tất Thành ra đi đã thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và ý chí lớn lao. Nguyễn Tất Thành đã không theo lối mòn của các bậc tiền bối, không có ý định cầu viện nước ngoài, mà đi để học, để tự lựa chọn con đường cách mạng thích hợp. Điều đó cho thấy, Nguyễn Tất Thành có tư duy độc lập, tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do cho dân tộc.
Sau khi đến nước Pháp, nhận việc làm vườn cho ông chủ tàu một thời gian, đầu năm 1912, Nguyễn Tất Thành lại xin làm thuê trên con tàu buôn đi vòng quanh châu Phi, Trung Mỹ, Nam Mỹ và cuối năm 1912 thì đến nước Mỹ. Trong thời gian ở Mỹ (từ cuối năm 1912 đến đầu năm 1913), Nguyễn Tất Thành sống một thời gian ở New York, rồi sang Boston để tìm hiểu lịch sử nước Mỹ và nghiên cứu bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ.
Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành trở lại Le Havre (Pháp) rồi sang Anh. Nguyễn Tất Thành làm công việc cào tuyết, đốt lò rồi làm bánh trong khách sạn Carlton. Nguyễn Tất Thành hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị, triết học và tham gia Hội những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Ireland.
    |
 |
Khách tham quan tìm hiểu hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP Hồ Chí Minh. Ảnh: XUÂN CƯỜNG
|
Khoảng cuối năm 1917, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra ác liệt, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp để trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và công nhân Pháp. Lần này, Nguyễn Tất Thành sống ở thủ đô Paris, trung tâm của phong trào cách mạng. Nguyễn Tất Thành hăng say học tập và hoạt động chính trị, kiếm sống vất vả bằng đủ loại nghề như sửa ảnh, vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Tất Thành lựa chọn đảng này vì nhận thấy đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp.
Năm 1918, Người ký tên Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi "Yêu sách của nhân dân An Nam" đến hội nghị các nước đế quốc thắng trận họp ở Versailles. Nguyễn Ái Quốc tự tay viết bản yêu sách bằng hai thứ tiếng: Một bản bằng chữ quốc ngữ theo thể văn vần, một bản chữ Hán và bỏ tiền thuê in 6.000 bản chữ Pháp để phân phát trong các cuộc hội họp, mít tinh và bí mật gửi về Việt Nam.
Bản yêu sách đều được chuyển đến tay các đoàn đại biểu các nước, nhưng không được hội nghị xem xét, tuy nhiên nó đã tác động mạnh đến người Việt Nam ở Pháp và trong nước. Việc bản yêu sách không được giải quyết đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra bộ mặt thật của chủ nghĩa đế quốc, như sau này Người nhận xét: “Chủ nghĩa Wilson chỉ là một trò bịp bợm lớn” và “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.
Tháng 7-1920, qua Báo L'Humanité (Nhân đạo) của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã được tiếp cận "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin. Luận cương đã chỉ cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập và tự do cho đồng bào mình. Chính vì tin theo Lênin và tin theo Quốc tế Cộng sản mà tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tours cuối tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Thế là, 10 năm sau quá trình tìm hiểu thế giới, khảo nghiệm các con đường cách mạng, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường, đã xác định được phương hướng giải phóng dân tộc hiệu quả, đó là con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tuy còn phải 10 năm vận động nữa Người mới lập được Đảng, hạt nhân lãnh đạo và tổ chức tiên phong để dẫn dắt dân tộc, và cũng 10 năm sau nữa, Người mới về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, nhưng việc Người trở thành người cộng sản năm 1920 đã là sự chuyển biến về chất, đánh dấu Người đã từ người yêu nước nhiệt thành trở thành người cộng sản.
Những tiền đề này đã đặt nền móng cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời mở ra các thắng lợi nối tiếp nhau từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, phía Tây Nam và công cuộc đổi mới đất nước hôm nay.
Sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5-6-1911 đã để lại bài học vô giá cho dân tộc và cho cách mạng Việt Nam. Trước hết, sự kiện này nhắc nhở mỗi chúng ta, nhất là thế hệ trẻ về khát vọng cống hiến cho dân tộc; khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám tìm tòi, phát hiện cái mới, đặc biệt là ý chí vượt khó, sẵn sàng vượt qua gian khổ, hiểm nguy vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Sự kiện xuất dương của Nguyễn Tất Thành càng có ý nghĩa to lớn trong thời kỳ hội nhập sâu rộng hiện nay. Sự kiện ấy vẫn có giá trị định hướng cho tư duy độc lập, tự chủ; tinh thần chủ động học hỏi, tìm tòi và kế thừa những tinh hoa của nhân loại. Tấm gương của Nguyễn Tất Thành thôi thúc thế hệ trẻ biến lòng yêu nước thành những hành động, việc làm cụ thể.
Sinh thời, khi nói chuyện với cán bộ, nhân viên Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng hỏi:
- Các đồng chí có nhớ Bác Hồ không?
- Dạ, có nhớ ạ!
- Nhớ ở đâu?
- Dạ, nhớ ở trong tim ạ!
Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhẹ nhàng nói: "Các đồng chí trả lời đúng nhưng chưa đủ. Bác Hồ sống mãi trong công việc hằng ngày của chúng ta!".
TS CHU ĐỨC TÍNH, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh