1
Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thành phố Sài Gòn-Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh chị em làm báo, viết văn thường tìm đến những nhân chứng lịch sử gắn với hành trình phát triển của thành phố để ghi hình, phỏng vấn. Trong cuộc gặp gỡ với Trung tướng Nguyễn Văn Thái, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Chính trị, Học viện Lục quân, tôi đem câu chuyện 30 năm trước của mình chia sẻ với ông. Vị tướng già sắp chạm ngưỡng bách niên đại thọ, cuộc đời dạn dày chiến trận nở nụ cười thật hiền, nói: “Thành phố này là nơi hội tụ của các dòng người, dòng văn hóa muôn phương. Trải qua những thăng trầm lịch sử và sự sàng lọc của quy luật tiếp biến, nơi đây đã hình thành, chưng cất, phát triển một nền văn hóa đa sắc, đa dạng, tiên tiến, hiện đại, với giá trị cốt lõi là văn hóa Hồ Chí Minh”...
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975, quyền Chính ủy Sư đoàn 7 Nguyễn Văn Thái, sát cánh cùng Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong thành cặp lãnh đạo, chỉ huy được cán bộ, chiến sĩ ca ngợi là “song kiếm hợp bích”, chỉ huy đơn vị kết thành “nắm đấm thép” đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc, mở đường cho đoàn quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. “Ban đầu cũng chỉ nghĩ là đi chiến đấu, sau ngày đất nước thống nhất thì về Hà Nội. Nhưng rồi, như là cái duyên tiền định, tôi đã quay lại thành phố này và gắn bó suốt phần đời còn lại. Rất nhiều người thế hệ chúng tôi đều có cái duyên như vậy, ngang qua rồi ở lại, coi đây là quê hương thứ hai...”, Trung tướng Nguyễn Văn Thái tâm sự.
Tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp của những người thuộc thế hệ cha anh như Trung tướng Nguyễn Văn Thái và khi mái tóc của mình cũng đã đổi màu theo thời gian, tôi càng thấm thía rằng, thành phố này níu chân người ở lại không chỉ bởi lý do công việc, nhiệm vụ mà còn ở chiều sâu văn hóa nhân văn và nghĩa tình nồng ấm, bền chặt...
30 năm đã qua. Chiếc ba lô năm ấy đã sờn rách. Tôi đã đi qua biết bao chuyến công tác, viết hàng nghìn bài báo, gặp gỡ biết bao số phận, chứng kiến từng bước chuyển mình của thành phố từ những năm cuối thế kỷ 20 sang thế kỷ 21. Mỗi khi đứng trên một cây cầu mới bắc qua sông Sài Gòn hay vào thang máy vút lên chót vót tòa cao ốc, những kỷ niệm xưa lại ùa về, lắng đọng như phù sa bên sông, để rồi mỗi dịp thành phố bước vào một giai đoạn chuyển mình, lại hiện lên rõ mồn một.
Ngày đầu đến thành phố, tôi không nhớ mình đã đi qua những con đường nào nhưng hình ảnh của những hàng me, những dãy phố và cả những gương mặt người xa lạ thì cứ hiện lên như những thước phim quay ngược. Khi đã sống đủ lâu ở thành phố này, tôi mới hiểu, nét đẹp văn hóa của một đô thị là khi sự tử tế trở thành nếp ứng xử thường ngày của cư dân. Người ta giúp nhau không vì muốn được biết ơn, cũng không vì nghĩ mình đang làm một việc đáng kể. Họ giúp bởi đơn giản thấy người khác đang cần giúp. Khi viết về thành phố, tôi chợt nhận ra, người ta có thể dùng nhiều mỹ từ để mô tả, giãi bày tâm trạng, nhưng tất cả đều bắt đầu từ những phẩm chất văn hóa của các thế hệ, đó là nghĩa tình, hào sảng và nhân văn...
Thành phố này không hỏi bạn sinh ra ở đâu. Không quan tâm giọng nói của bạn mang âm sắc miền nào. Cũng không đặt nặng bạn đã có gì trong tay. Điều mà thành phố âm thầm đòi hỏi là bạn có chịu làm việc hay không, có dám nuôi một ước mơ hay không, có sống tử tế với người khác hay không? Có lẽ vì thế mà từ nhiều thập niên qua, sau ngày thống nhất đất nước, hàng triệu con người từ mọi miền Tổ quốc đã tìm đến đây. Họ mang theo những giọng nói khác nhau, những tập quán khác nhau. Thành phố mở rộng vòng tay để những khác biệt ấy cùng tồn tại, phát triển, cùng làm nên diện mạo của một đô thị luôn vận động, phát triển không ngừng. Thành phố lớn lên từ chính sự cộng hưởng sức mạnh của hàng chục triệu con người như thế.
2
30 năm qua, tôi chứng kiến nhiều vùng đất ngoại ô năm xưa là đồng ruộng, ao đầm, nay đã thành những khu đô thị mới. Tôi đi trên những cây cầu mà trước đó muốn qua sông chỉ còn cách chờ phà. Tôi trở lại những con đường từng lầy lội sau cơn mưa, nay đã trở thành đại lộ rợp bóng cây. Thành phố cứ mở rộng dần theo từng tuyến đường vành đai, từng tuyến metro, cây cầu vượt sông, như một cơ thể khỏe mạnh không ngừng vươn mình lớn dậy.
Thành phố cho tôi môi trường làm nghề và nghề báo lại cho tôi một cách riêng để hiểu thành phố. Mỗi chuyến công tác là một lát cắt của đời sống. Mỗi cuộc gặp gỡ lại thêm một mảnh ghép của bức tranh thành phố. Có những đêm thức trắng cùng đồng đội cứu cánh rừng phát hỏa. Có những khoảng thời gian cùng đồng đội trên con tàu vượt sóng gió biển khơi ra Trường Sa, nhà giàn DK1 và các vùng biển, đảo Tổ quốc. Lại có những chiều ngồi rất lâu trong một căn nhà nhỏ ở ngoại thành, nghe Bà mẹ Việt Nam anh hùng kể về người con duy nhất đã ngã xuống ở chiến trường...
Một đô thị hơn 300 năm tuổi, 50 năm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, nay đang giữ vai trò đầu tàu, nạp năng lượng và tăng tốc cùng đất nước tiến lên hùng cường, phồn vinh. Và bên trong lòng thành phố, đâu đâu người ta cũng dễ dàng bắt gặp những điều tình nghĩa, để rồi chính ta cũng tự nhủ phải điều chỉnh bản thân để là một phần của những điều tử tế ấy. Nó hiện diện trong quán cơm bình dân luôn để sẵn những suất miễn phí cho người khó khăn. Nó hiện diện trong những chuyến xe chở công nhân về quê ăn Tết do doanh nghiệp tự nguyện tổ chức. Rồi thì những bếp ăn đỏ lửa suốt đêm ở bệnh viện, những nhóm thiện nguyện lặng lẽ đi dưới mưa, những gian hàng "0 đồng", những tủ sách miễn phí, lớp học tình thương...
50 năm trước, thành phố bước sang một trang sử mới khi vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó như là lời nhắc nhở về lý tưởng phát triển, về khát vọng xây dựng đô thị hiện đại. Nửa thế kỷ qua, thành phố đã trải qua nhiều biến động, nhiều lần đứng trước thử thách lớn. Mỗi lần như vậy, điều giúp thành phố vượt lên chính là sức mạnh được kết tinh từ lòng dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cuộc chống chọi với đại dịch Covid-19 là một dẫn chứng điển hình. Đó là quãng thời gian mà khoảng cách giữa những người thân không còn được tính bằng cây số, mà bằng nỗi bất an. Thế nhưng, cũng chính trong những ngày khắc nghiệt ấy, tôi lại được nhìn thấy phần rất đẹp của thành phố. Mỗi buổi sáng, trước cửa nhà lại có một chiếc rổ nhỏ. Trong đó, khi thì mớ rau, lúc vài con cá, hôm là túi gạo, hôm khác là hộp thuốc, hộp khẩu trang. Những thứ ấy đến từ cô bán nước dưới sân chung cư, từ chị bán cà phê góc đường, từ bác tổ trưởng tổ dân phố, từ ban quản trị tòa chung cư và cả những người hàng xóm mà trước đó chúng tôi chỉ kịp chào nhau trong thang máy. Có người tôi biết tên. Có người đến bây giờ vẫn không biết. Những món quà ấy không lớn. Nhưng chúng chứa đựng một điều lớn hơn rất nhiều. Đó là cảm giác thành phố không để ai bị bỏ lại phía sau...
Nhiều năm sau, khi nhớ về đại dịch, thành phố đã quyết định dành khu đất có giá trị rất lớn về kinh tế ở khu trung tâm để xây dựng công viên, đài tưởng niệm những đồng bào, đồng chí đã khuất vì Covid-19.
Dịp này, thành phố có nhiều hoạt động kỷ niệm 50 năm mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nửa thế kỷ là một khoảng thời gian đủ dài để một thế hệ trưởng thành, đủ dài để một vùng đất đi qua những thử thách của chiến tranh, của bao cấp, của đổi mới, hội nhập và cả những thách thức toàn cầu. Thành phố hôm nay đang bước vào một chặng đường mới với khát vọng trở thành một siêu đô thị quốc tế, một trung tâm tài chính, khoa học, công nghệ của khu vực.
Ba mươi năm trước, tôi đến thành phố này với ý nghĩ mình chỉ đi ngang qua. Ba mươi năm sau, nhìn lại, tôi hiểu rằng điều khiến mình ở lại và gắn bó trọn đời không phải là một quyết định được đưa ra trong một ngày nào đó. Nó diễn ra rất tự nhiên, như cây bén rễ vào đất, như dòng sông gặp biển. Và tôi tin, hơn 14 triệu người đang sinh sống, làm việc ở thành phố này, ai cũng đang mang trong lòng một câu chuyện riêng về thành phố của mình...
Tùy bút của PHAN TÙNG SƠN