Thiếu tướng, GS, TS NGUYỄN HỒNG QUÂN, nguyên Phó viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng (nay là Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam):

Nền móng của thế trận chiến tranh nhân dân

Trong lịch sử Việt Nam, chủ trương lập làng để giữ nước đã có từ nghìn đời và được thể hiện dưới chủ trương, chính sách và nhiều phương thức khác nhau. Đây chính là nền móng của thế trận chiến tranh nhân dân, một đặc sắc trong văn hóa dựng nước gắn với giữ nước của dân tộc Việt Nam.

leftcenterrightdel

Thiếu tướng, GS, TS Nguyễn Hồng Quân. Ảnh: HÀ TUẤN

Tiêu biểu như chính sách "ngụ binh ư nông" ở thời Đinh, Lý, Trần và đạt đỉnh cao thời Lê sơ. Triều đình không duy trì một lực lượng quân đội thường trực quá đông trong thời bình để tránh gánh nặng ngân sách. Binh lính được chia luân phiên về làng quê sản xuất nông nghiệp. Khi có chiến tranh, triều đình lệnh triệu tập, người dân lập tức trở thành binh lính.

Thời Lý-Trần, triều đình khuyến khích các vương hầu, tôn thất và nhân dân lên khai phá vùng đất biên giới phía Bắc (Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn...). Thời Hậu Lê và nhà Nguyễn có chính sách “đồn điền”, chiêu mộ dân nghèo, binh lính đến các vùng đất hoang, vùng biên giới phía Nam để khẩn hoang. Thời Nguyễn (đặc biệt dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị), Nguyễn Công Trứ đã lãnh đạo công cuộc khai hoang quy mô lớn, lập nên các huyện mới như Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình), biến những vùng bãi bồi ven biển hoang vu thành các làng xã trù phú, trấn giữ cửa biển.

Từ sau năm 1975 đến thập niên 1990, hàng triệu người từ các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung được vận động đi khai hoang, lập nên những vùng chuyên canh cà phê, cao su, chè... ở tỉnh Lâm Đồng, các huyện biên giới và vùng sâu tại các địa phương vùng Tây Nguyên để hình thành nên hàng trăm thôn, buôn xen kẽ giữa người bản địa và dân di cư từ Thái Bình, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Trong thời kỳ hiện đại, việc “lập làng mới” gắn liền với các chính sách kinh tế mới, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo. Việc biến mỗi thôn, làng thành một trung tâm kinh tế-văn hóa-quân sự thu nhỏ đã tạo ra thế trận quốc phòng toàn dân rộng khắp, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

----------

Đại tá KHUẤT BÁ CAO, Bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh Binh đoàn 15:

Vườn cây đến đâu, cụm dân cư tới đó

Từ những ngày đầu mở đất, vừa thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh gắn với sản xuất, giữ gìn an ninh chính trị, đến nay, việc đưa dân lên vùng biên giới của Binh đoàn 15 đã xóa tình trạng địa bàn trắng dân bản, trắng xã, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

leftcenterrightdel

Đại tá Khuất Bá Cao. Ảnh: MINH SƠN 

Thực hiện sứ mệnh tiên phong mở đất, dựng làng, xây dựng các khu kinh tế-quốc phòng, Binh đoàn 15 đã kiên trì bám đất, bám dân, khai hoang phục hóa, trồng mới những vườn cây cao su, cà phê giữa đại ngàn. Mỗi hàng cây bén rễ không chỉ tạo sinh kế mà còn là biểu tượng của ý chí bám trụ, góp phần hình thành "thế trận lòng dân" bền chặt. Đến nay, Binh đoàn đã quản lý, chăm sóc, khai thác hơn 45.000ha cao su; mở rộng phát triển 300ha dứa, 73ha lúa, 12ha cà phê, chăn nuôi hơn 1.000 con bò thịt, sản xuất điện năng cùng một số ngành nghề sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khác. Binh đoàn huy động hàng nghìn tỷ đồng từ ngân sách đơn vị và các nguồn lực xã hội hóa, kiến thiết nhiều công trình dân sinh trọng điểm, trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào.

Với phương châm vườn cây đến đâu, tổ chức cụm dân cư đến đó, Binh đoàn đã biến vùng đồi núi hoang hóa thành hàng trăm điểm dân cư mới, chạy dọc đường biên giới ở các địa bàn chiến lược. Trong những năm qua, Binh đoàn đã xây dựng 266 khu dân cư mới, xóa bỏ những vùng trắng dân cư.

Binh đoàn đã triển khai ký kết và thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp với 33 xã của tỉnh Gia Lai, Quảng Ngãi, Quảng Trị. Các đơn vị của Binh đoàn đã kết nghĩa với 271 bản, làng trong nước. Bên cạnh đó, Binh đoàn 15 còn thực hiện xuất sắc nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, đối ngoại nhân dân. Binh đoàn đã mở rộng đầu tư phát triển diện tích trồng cao su sang hai nước bạn Lào và Campuchia. Các hoạt động kết nghĩa với các xã, bản của tỉnh Ratanakiri (Campuchia) và Attapeu (Lào) không chỉ thúc đẩy kinh tế mà còn xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, làm sâu sắc thêm tình đoàn kết...

Ở nơi biên cương, mỗi công nhân, người lao động của Binh đoàn là một cột mốc sống. Việc làm đó đã khiến nếp nghĩ, cách làm cũ của người dân nơi đây thay đổi, hủ tục bị đẩy lùi. Đồng bào thực sự có cuộc sống tốt hơn, từ đó đặt trọn niềm tin vào Đảng, Nhà nước và Quân đội.

----------

Thượng tá HOÀNG XUÂN THẮNG, Bí thư Đảng ủy, Phó đoàn trưởng Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 716, Binh đoàn 15: 

Đi với dân đến cùng

Những năm qua, quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 716 từng bước mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp trên vùng biên giới của tỉnh Quảng Ngãi. Từ những cánh rừng nghèo, đất khô cằn và nhiễm phèn nặng, không có dân sinh sống, đến nay, sau 17 năm, trên địa bàn hai xã Ia Đal và Ia Tơi (Quảng Ngãi) rộng 890km2 đã đạt tới 19 người/km2, với thành phần gồm đồng bào 40 dân tộc thiểu số cùng sinh sống và tâm huyết xây dựng quê hương thứ hai. Đời sống của các hộ dân không ngừng được cải thiện, trong đó có nhiều hộ dân thu nhập 500-600 triệu đồng/năm.

leftcenterrightdel

Thượng tá Hoàng Xuân Thắng. Ảnh: MINH SƠN

Đạt được những kết quả trên có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan, đáng kể là sự vào cuộc quyết liệt, có hiệu quả của cả hệ thống chính trị, việc xây dựng hạ tầng, chăm lo sức khỏe, tinh thần của đội ngũ cán bộ, nhân viên Đoàn KT-QP 716. Trong đó, để giữ được dân, một kinh nghiệm quý mà Đảng ủy Đoàn KT-QP 716 rút ra là cán bộ, nhân viên của đơn vị phải bám dân đến cùng, luôn động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để nhân dân làm ăn, sinh sống.

Hiện nay, việc thu hút người lao động đến làm việc và sinh sống gặp một số khó khăn. Một số chính sách như giao đất canh tác, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) chưa được triển khai hiệu quả nên người lao động chưa mặn mà, thật tâm bám biên giới, xây làng. Hy vọng, trong tương lai gần, khi những chính sách này được hoàn thiện và đi vào thực tiễn thì nguồn lao động sẽ dồi dào và kinh tế vùng biên sẽ tạo ra sức hút để góp phần củng cố quốc phòng, an ninh vùng ngày càng vững chắc hơn.

----------

Đồng chí A KHIÊN, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Ia Đal (Quảng Ngãi):

Điểm tựa của cấp ủy, chính quyền

Khi còn là Phó bí thư Thường trực Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Ia H’Drai (tỉnh Kon Tum) và hiện nay là Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Ia Đal (Quảng Ngãi), tôi thấy sự giúp đỡ của Binh đoàn 15 nói chung và Đoàn KT-QP 716 nói riêng với cấp ủy, chính quyền địa phương được thể hiện rất rõ trong các mặt công tác.

Từ những ngày đầu khó khăn, Đoàn KT-QP 716 đã tích cực giúp địa phương vận động nhân dân nâng cao nhận thức và đề cao trách nhiệm chính trị, tích cực tham gia vào thành lập các tổ chức chính trị-xã hội. Địa phương đã cùng với Đảng ủy Đoàn KT-QP 716 xây dựng quy chế phối hợp, tổ chức hoạt động trao đổi, cung cấp thông tin rất chặt chẽ. Đoàn đã giúp chính quyền trong bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng hạ tầng và công tác quốc phòng, an ninh. Từ sau khi được tổ chức lại, thành lập xã Ia Đal vào giữa năm 2025, việc phối hợp vẫn được địa phương và đơn vị duy trì tốt. Đoàn còn cung cấp nguồn cán bộ cơ sở cho chính quyền địa phương với 4 đồng chí được tín nhiệm bầu làm trưởng thôn.

leftcenterrightdel
 Đồng chí A Khiên. Ảnh: MINH SƠN

Chỉ tính trong 9 tháng năm 2026, lực lượng chức năng của xã đã phối hợp hiệu quả với Đoàn KT-QP 716 trong rà soát chất lượng chính trị người lao động và phối hợp thực hiện 88 đợt tuần tra, truy quét các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp. Có thể nói, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, sự giúp đỡ của Đoàn KT-QP 716 và Binh đoàn 15 với địa phương đều đáng quý, đáng trân trọng. Đây chính là cơ sở, là điểm tựa giúp cấp ủy, chính quyền và nhân dân cùng chung sức bảo vệ vững chắc biên cương và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.  

THANH QUÝ - THẢO TRANG (ghi)