Khói quyện với ngọn lửa lúc nào cũng âm ỉ trong bếp như nâng những người anh hùng của bon làng bay lên, vượt qua không gian, thời gian, về đây cùng mọi người quây quần bên ché rượu cần thơm men đại ngàn bí ẩn. Lời hát khiến trời như cao hơn, đêm thêm sâu hơn, loài chim nào đậu cánh ngủ quên bên bìa rừng giật mình tỉnh giấc, tiếng vỗ cánh cô đơn hòa với tiếng gió cuốn xao xác. Chỉ nghe kể lại mà đêm khan như đã hiển hiện sống động trước mắt, lôi cuốn ta đắm chìm trong thế giới của những anh hùng.
Nhưng những chuyến công tác về với bon làng cũng không giúp tôi thực hiện được niềm mong mỏi ấy. Tôi chỉ có thể nghe những điệu hát từ những sân khấu giao lưu, trong buổi phục dựng nghi lễ tại một bon làng còn có người gìn giữ văn hóa cha ông truyền lại trước sự mai một của thời gian. Mỗi người già, mỗi nghệ nhân về với cõi A tâu đều để lại khoảng trống và nỗi lo không còn người kế thừa, văn hóa dân gian sẽ dần biến mất. Trước những biến động không ngừng của thời đại, làm sao để lời ca, tiếng hát ấy không bị tan loãng vào hư không là một trăn trở lớn.
Tây Nguyên, miền đất của đại ngàn hùng vĩ và những huyền thoại xa xưa, là nơi cư trú của các dân tộc Ê Đê, M'nông, Gia Rai, Ba Na... với dấu ấn riêng về địa lý, lịch sử, phong tục, lối sống và cách thích nghi với môi trường tự nhiên, xã hội. Chính điều đó đã tạo cho mảnh đất này một kho tàng văn học dân gian đặc sắc mà đặc trưng nổi bật là sử thi-những áng anh hùng ca mang những tên gọi khác nhau như khan, hơ mon, hri... đồ sộ cùng với những truyện cổ, diễn xướng kể chuyện thâu đêm, phản ánh tư duy huyền thoại, lịch sử tộc người và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Ngày nay, các già làng, nghệ nhân, những “thư viện sống” nắm giữ vốn quý này đang dần về với mảnh đất của ông bà theo quy luật thời gian, mang theo kho tàng sử thi, các bài cúng, lời khấn cổ, điệu dân ca mất đi vì thiếu người kế cận. Văn hóa trình diễn văn học dân gian Tây Nguyên cũng đang bị bóp méo tại chính nơi khởi nguồn của thể loại này. Trong các lễ hội đông đúc, dưới ánh sáng sân khấu hoặc tại các khu du lịch, không khó để bắt gặp các nghệ nhân cầm micro đọc khan, kể sử thi, hát những bài dân ca đã bị biến tấu cho phù hợp với thị hiếu. Khi không gian để văn học dân gian nguyên bản được sống, tái hiện dần bị thay thế bởi sự thực dụng và hình thức thì sự đứt gãy là điều không thể tránh khỏi.
    |
 |
| Trao truyền. Ảnh: NSNA MINH PHƯƠNG |
Chính trong bối cảnh đó, Đề án "Bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các dân tộc thiểu số đến năm 2030" ra đời. Đề án không chỉ dừng ở khẩu hiệu mà cụ thể hóa bằng những mục tiêu rõ ràng: Sưu tầm, số hóa, phục dựng các tác phẩm; xây dựng cơ sở dữ liệu; hỗ trợ nghệ nhân và đặc biệt là đưa văn học dân gian vào trường học. Đây là điểm then chốt mang tính đột phá, đưa bảo tồn từ “lưu giữ” sang “trao truyền”. Từ đó, nhiều địa phương đã đặt ra mục tiêu 80% trường học vùng dân tộc thiểu số đưa văn học dân gian vào hoạt động ngoại khóa. Đề án còn nhấn mạnh vai trò của nghệ nhân và cộng đồng.
Gắn với thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các dân tộc thiểu số, việc đầu tư xây dựng các trường học ở vùng biên giới không chỉ là bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng mà còn góp phần nuôi dưỡng bản sắc, gìn giữ tiếng nói, phong tục, ký ức cộng đồng và lòng tự hào về cội nguồn.
Tại một số trường học trên địa bàn biên giới nói chung và Tây Nguyên nói riêng đã tạo ra được các hoạt động phong phú, bổ ích để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Những lớp dạy chữ Cơ Ho, Chu Ru hay M'nông được mở ra ngay tại trường, giúp các em không chỉ đọc thông viết thạo tiếng phổ thông mà còn biết cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ. Các nghệ nhân được mời đến trường để truyền dạy trực tiếp chữ viết và cách kể sử thi cho các em.
Trong tương lai, các mái trường biên giới còn góp phần đào tạo thế hệ trí thức trẻ là người dân tộc thiểu số, những người có khả năng dịch kho tàng văn học dân gian sang tiếng phổ thông để lưu giữ và phổ biến. Các em không chỉ là người kế thừa mà còn là chủ thể sáng tạo, vừa giữ gìn đặc trưng truyền thống, vừa đổi mới trong giới hạn cho phép để văn học dân gian được lan tỏa.
Việc bảo tồn văn học dân gian thông qua giáo dục vẫn còn những hạn chế như: Thiếu đội ngũ giáo viên am hiểu văn hóa bản địa, tài liệu giảng dạy chưa phong phú, tổ chức hoạt động còn mang tính hình thức theo chương trình, kế hoạch năm học; đòi hỏi cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, giữa chính sách của Nhà nước và vai trò của các nghệ nhân. Song tôi tin, một ngày không xa sẽ được “sống” cùng với sử thi bên bếp lửa, nghe già làng kể về những người anh hùng trong đêm sâu thẳm thiêng liêng. Niềm tin khởi nguồn từ những ngôi trường được xây dựng nơi phên giậu Tổ quốc...
ĐÀO THU HÀ