Những kiến thức “phải biết” ấy do các thầy cô chọn ra từ những kiến thức “đã biết” để dạy cho các trò. Đó là những “kiến thức phổ thông” mà người ta cứ 18 tuổi là không thể không biết-là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi trò. Từ đó, sách giáo khoa (SGK) phổ thông ra đời!

Chọn "kiến thức phổ thông"

Tuân thủ Hiến pháp, các thầy cô phải chọn những “kiến thức phổ thông” không thể không biết để làm SGK. Học trò cả nước đều phải/phải được học những kiến thức “phải biết” ấy-bình đẳng, cùng nền tảng-và vì thế, chủ trương chỉ dùng một bộ SGK phổ thông trong cả nước là đúng (“kiến thức phổ thông” chưa phức tạp đến nỗi cần phải “khai phóng”).

Nguyên tắc này còn dẫn đến nhiều cái lợi khác: Không liên tục làm khổ người dạy, người học và phụ huynh như nhiều năm qua nữa; không quá tốn tiền của phụ huynh và ngân sách nhà nước như nhiều năm qua nữa. SGK có thể dùng nhiều lần nên nhà trường lại có thêm bao nhiêu “phụ giảng” là cha mẹ, anh chị, thậm chí là ông bà và bạn bè của muôn trò ta nữa-“học thầy không tày học bạn”... kia mà! Đã thế, lại còn thủ tiêu được nạn lạm phát sách tham khảo và văn mẫu các kiểu như nhiều năm qua. Văn mẫu, may ra chỉ có ích với những trò “học gạo” mà thôi! Trò có năng khiếu văn học mà học theo văn mẫu thì chỉ có hại! Và, văn mẫu bây giờ, trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra như không ấy mà!

Không nên dùng nhiều loại SGK phổ thông (ở bậc đại học thì có thể có nhiều loại giáo trình để lựa chọn vì sinh viên đã trưởng thành rồi), không đấu thầu soạn SGK phổ thông vì không phải ai, không phải nhóm người nào muốn dạy gì cho học trò ta cũng được!

Nghe có vẻ nghiêm khắc? Nhưng có sự bắt buộc nào lại không cần đến nghiêm khắc?

Những sách giáo khoa phổ thông cần thiết và cách làm

Thứ nhất là SGK Ngôn ngữ Việt (tiếng nói và chữ viết). Mọi dân tộc trên thế giới đều kính trọng và giữ gìn ngôn ngữ của mình như một thứ “mã” đặc biệt. Cha ông ta mà không thế thì dân ta đã bị đồng hóa lâu rồi.

- Không đủ ngôn ngữ thì không học được các môn học khác.

- Không gọi là SGK Ngữ văn như lâu nay nữa. “Ngữ văn” là một thuật ngữ hẹp hơn “ngôn ngữ”.

- Đủ để học trò, sau khi tốt nghiệp THPT, có thể dùng thành thạo trong giao tiếp xã hội hằng ngày, có thể tự làm được những văn bản thông thường (hành chính, thư từ...) mà không phải nhờ ai nữa.

- Đủ phần văn học truyền miệng (ca dao, tục ngữ...) và văn học viết điển hình để học trò bước đầu biết về việc cha ông mình đã nghệ thuật hóa ngôn ngữ Việt như thế nào; để học trò biết và nuôi lớn tình yêu đối với tổ tiên, cha ông, đất nước và nhân quần... Riêng các bản “tuyên ngôn” của Lý Thường Kiệt ("Nam quốc sơn hà"), Trần Quốc Tuấn ("Hịch tướng sĩ"), Nguyễn Trãi ("Bình Ngô đại cáo") và Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các trò phải nằm lòng! Ngoài giá trị lịch sử-đạo lý, 4 tác phẩm này rất có giá trị về ngôn ngữ (nếu không, học trò lại phải học những bài vè cỡ như “Bắt nạt” mất thôi!).

- Có phần chỉ định (“Đọc thêm” hoặc “Trích giảng”) để các trò có năng khiếu văn học và thực sự yêu văn học có thể biết sâu về văn học hơn các trò khác xung quanh. Họ cũng có thể tìm hiểu sâu hơn nữa về văn học ở câu lạc bộ (CLB) văn học trong trường (giống như các CLB thể thao, âm nhạc, hội họa dành cho các trò xung quanh khác vốn không thích văn học vậy). Những kiến thức học trò thu được ở phần “Đọc thêm”, “Trích giảng”, sinh hoạt CLB không đưa vào các đề thi chính thức-chỉ thi trong phạm vi kiến thức phổ thông đại trà-bằng tốt nghiệp THPT cũng chỉ nên cần đến thế!

Các bạn cứ nghĩ mà xem, con cháu chúng ta cũng đâu có yêu thích và theo đòi các môn học giống hệt nhau!

Thứ hai là SGK Lịch sử. Con người có lý lịch, tiểu sử. Gia đình có gia phả. Dòng họ có tộc phả. Dân tộc phải có “quốc phả”-lịch sử (lịch sử dựng, giữ và mở nước; lịch sử-văn hóa).

Không biết đủ lịch sử nước nhà từ khi học phổ thông, hồn cốt tất dần xa hồn cốt Việt-“Dân ta phải biết sử ta” là thế! Lịch sử dân tộc góp phần rất lớn trong việc tạo ra thứ “mã” đặc biệt trong gene của người Việt.

Viết đến đây lại nhớ, có một lần đi dự hội thảo chữ nghĩa với cố nhà văn Nguyễn Minh Châu, sau khi nghe các giáo sư, tiến sĩ, nhà thơ (những người được Nhà nước ta cử đi học khoa học xã hội (KHXH) ở nước ngoài từ khi còn trẻ trở về) phát biểu và đọc thơ, anh Châu bảo tôi: “Ông thấy không? Hình như các ông bà kia, trước khi đi học nước ngoài, đều là những cái thùng tô-nô rỗng và khi sang đó, họ đổ cái gì vào thùng thì mang về nước rồi vặn vòi cho dân ta dùng, hết thì lại sang xin thêm...”.

 Có cay đắng không?

Theo tôi, những người được Nhà nước cử đi học các ngành KHXH ở nước ngoài, trước khi đi, phải là những người có đủ cốt cách văn hóa Việt đã. Nếu không thế, tình trạng mà cố nhà văn Nguyễn Minh Châu nói, tất sẽ mãi xảy ra thôi!

Lịch sử vốn là một môn học độc lập, bắt buộc, truyền đời, vô cùng bổ ích và lý thú đối với tất cả thế hệ học trò Đông, Tây, kim, cổ.

Lịch sử cũng vốn là một môn khoa học độc lập, bắt buộc, truyền đời, vô cùng bổ ích và lý thú đối với các nhà KHXH xưa nay nói riêng và tất cả những người muốn dân mình tiến hóa nói chung.

Ở phương Tây, A.Pushkin nói: Kính trọng lịch sử là dấu hiệu để phân biệt văn minh với dã man. Còn R.A.Heinlein thì cho rằng: Một thế hệ ngoảnh mặt với lịch sử là một thế hệ không có quá khứ-và cũng không có tương lai.

Ở phương Đông, cũng không hề ngẫu nhiên khi hai trong số những cuốn sách đầu tiên mà Khổng Tử làm lại là “Kinh Thư” (sách Lịch sử) và “Kinh Thi” (sách Thi ca). Thi ca nói riêng và văn học nói chung, ngoài ích lợi và vẻ đẹp tự thân, rất nhiều khi là những ánh xạ, những gương mặt khác của lịch sử và đôi khi, là chính lịch sử (nếu đó là những tác phẩm văn học lịch sử hoặc lịch sử được viết bằng một thứ văn thật hay-như “Sử ký Tư Mã Thiên” chẳng hạn). Không biết bao nhiêu tác phẩm văn học lớn được sinh ra từ chính sử, huyền sử, dã sử, tiểu sử... đặc biệt là khi chúng lại được chắp thêm đôi cánh của tư tưởng (mà tư tưởng cũng có lịch sử của nó).

Tóm lại, bản thân môn Lịch sử đã là tích hợp của rất nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết các môn KHXH khác, để những ai biết kính trọng lịch sử mới được coi là có dấu hiệu của người văn minh.

leftcenterrightdel

Sách giáo khoa môn Ngữ văn THPT của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Ảnh: MINH THÀNH 

Bây giờ, “băm nhỏ” lịch sử ra rồi “tích hợp”, “cài cắm” từng “mảnh” lịch sử vào mấy môn học khác như Giáo dục quốc phòng và an ninh, Giáo dục công dân, Đạo đức... chính là đi ngược lại quá trình “tích hợp” vốn đã rất khoa học xưa nay của lịch sử; là đã “băm nhỏ” ngọn núi lịch sử thành các đồi, gò, rồi sau này học sinh ta lại phải chồng các đồi, gò ấy thành núi trở lại nếu muốn hình dung lại lịch sử! Cũng không nên biến lịch sử thành ra tuyên giáo. Khoa học/nghệ thuật tuyên giáo có thể dùng rất nhiều lịch sử để phục vụ cho mục đích của mình, nhưng không bao giờ là lịch sử.

Phải, chớ làm như vậy! Bản thân môn Lịch sử đã có đầy đủ yếu tố để giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục công dân, giáo dục đạo đức... rồi! Không những thế, về mặt khối/trọng lượng vật lý thuần túy, môn Lịch sử, khi thay thế các môn kia, sẽ giúp cho chiếc cặp/ba lô của học sinh ta bé đi rất nhiều như mong mỏi lâu nay. Sách “Vệ sinh học đường” cũng nói rõ: “Học sinh trung học không nên mang trên mình thứ gì nặng quá 5 cân”.

Có một ai đó đã nói: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục là truyền dạy lại những gì đã biết”-người ta biết được rất nhiều từ môn Lịch sử. Nếu lơ là môn Lịch sử, sau này, có thể người Việt sẽ không biết dân tộc mình đã dựng, giữ và mở nước như thế nào để học hỏi, tự hào và quyền biến; có khi còn quên luôn cả cha, ông, cụ, kỵ, tổ tiên mình ấy chứ!

Thứ ba là SGK Địa lý. “Địa chỉ” của lịch sử, “sổ đỏ” của lịch sử chính là Tổ quốc-quốc gia-non sông-đất nước-nước nhà-xứ sở-giang sơn-sơn hà-sông núi-bờ cõi-cương vực-cương thổ-không phận-lãnh hải-thềm lục địa...

Thế nên, phải có SGK Địa lý phổ thông thật tốt!

Học trò ta, ngoài những tấm bản đồ cơ bản về diện tích, dân số, địa hình, địa mạo, tài nguyên/khoáng sản, khí hậu... hiện nay, thì phải được biết về những tấm “bản đồ hành chính” qua các triều đại/thời đại để thấy cha ông mình đã dựng, giữ và mở nước như thế nào-nó cũng bổ sung rất tốt cho môn Lịch sử.

Không dạy Địa lý tốt thì khác nào đẩy Lịch sử vào cảnh “vô gia cư”!

Tóm lại, SGK Ngôn ngữ Việt, SGK Lịch sử Việt, SGK Địa lý Việt phải là 3 cuốn SGK quan trọng hàng đầu trong các cấp học phổ thông!

ĐỖ TRUNG LAI