1. Ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chúng ta đã chứng kiến tình trạng thôn tính văn hóa mang tính cơ học. Các nước thực dân, đế quốc đã dùng sức mạnh kinh tế, quân sự chiếm đoạt quyền tự do, dân chủ, thôn tính các nước khác làm thuộc địa và thuộc địa kiểu mới. Ở Việt Nam, thực dân Pháp che đậy âm mưu cướp đất, cướp dân và áp đặt đô hộ bằng những cụm từ “bảo hộ”, “khai hóa văn minh”.
Thực chất, đằng sau luận điệu mỹ miều ấy là một chế độ thuộc địa, khai thác tài nguyên, kiểm soát đời sống xã hội và áp đặt nhiều chính sách phục vụ lợi ích của chính quyền cai trị. Chúng tổ chức học tập, thực hành và áp đặt các hình thức văn hóa để chia rẽ, ly tán và làm mờ đi bản sắc đặc trưng văn hóa Việt Nam.
Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ cách thực dân Pháp giết chết văn hóa bản địa, đưa "văn hóa mẫu quốc" vào thuộc địa. Ở phần III thuộc chương I của tác phẩm, Người đã thuật lại lời kể từ thư của một người An Nam gửi cho bạn ở nơi xa về sự quái gở trong tổ chức hoạt động văn hóa: "Nếu trên đời này mà có một việc quái gở vừa thương tâm lại vừa lố bịch, thì đó hẳn là việc bắt một dân tộc vẫn đang chịu đựng đủ mọi thứ bất công và không có bất cứ thứ quyền nào phải làm lễ mừng cuộc chiến thắng của "công lý" và "chính nghĩa”... Ở đâu và bao giờ cũng thế thôi, rước đèn, đốt pháo bông, duyệt binh, khiêu vũ ở dinh thống đốc, đua xe hoa, mở lạc quyên vì nước, quảng cáo, diễn văn, tiệc tùng...”.
TS Bàn Tuấn Năng, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Trí thức khoa học và công nghệ trẻ Việt Nam cho rằng, ở thời điểm đó, những chính sách thôn tính văn hóa đặt trong một hệ thống quyền lực đã gây ra hệ lụy chậm phát triển về kinh tế, sức khỏe và đời sống xã hội, khiến mức độ lệ thuộc ngày càng tăng lên.
2. Từ khi thống nhất đất nước (ngày 30-4-1975), nhất là từ mốc đổi mới năm 1986 trở đi, chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi khá mạnh về văn hóa, trong đó tiếp biến văn hóa ngày càng có đất phát triển. Nhưng vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập là sự lo ngại về xâm lăng văn hóa và du nhập văn hóa ngoại lai.
Trên thế giới, các cường quốc văn hóa như Mỹ, Anh, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc đều có những chiến lược xuất khẩu văn hóa vô cùng bài bản và hiệu quả, biến văn hóa thành một công cụ "sức mạnh mềm" áp đảo trên toàn cầu.
    |
 |
Hình ảnh tại Lễ hội văn hóa thế giới Hà Nội năm 2026. Ảnh: QUỐC VIỆT
|
Mỹ là quốc gia đi đầu trong việc biến văn hóa đại chúng thành sản phẩm thương mại phủ sóng rộng nhất thế giới. Với các chiến lược trong phát triển phim ảnh, ca nhạc, Mỹ bán văn hóa và bán cả "giấc mơ Mỹ”, biến các biểu tượng văn hóa Mỹ thành thói quen tiêu dùng hằng ngày của người dân ở mọi quốc gia.
Năm 1997, Chính phủ Hàn Quốc thành lập các quỹ hỗ trợ nghệ thuật và quảng bá văn hóa ra nước ngoài. Họ xây dựng chiến thuật "thần tượng chuyên nghiệp" với chủ đạo là âm nhạc và phim ảnh để khai thác tối đa mạng xã hội, tạo cộng đồng người hâm mộ trung thành trên toàn cầu. Phim ảnh (K-drama) lồng ghép khéo léo ẩm thực (kimchi, soju, tteokbokki), mỹ phẩm (K-beauty) và thời trang, tạo nên nhu cầu tiêu dùng dây chuyền.
Nhật Bản có chiến lược tiếp cận thế giới thông qua thế giới tưởng tượng, sự tinh tế và các sản phẩm sáng tạo độc đáo, chinh phục nhiều thế hệ thanh thiếu niên trên toàn cầu. Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp sáng tạo quảng bá văn hóa ra nước ngoài bằng phương thức kết hợp giữa yếu tố hiện đại và giá trị truyền thống (trà đạo, ẩm thực, tinh thần Omotenashi) và thu được kết quả ấn tượng.
Trước những cơn bão ấy, văn hóa Việt Nam có bị ảnh hưởng do quá trình tiếp biến văn hóa tự phát, thiếu định hướng dẫn đến nguy cơ bị xói mòn và suy giảm bản sắc văn hóa dân tộc?
GS, TS Nguyễn Chí Bền, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) đánh giá, một bộ phận công chúng, đặc biệt là giới trẻ có xu hướng thần tượng hóa và chạy theo các trào lưu âm nhạc, thời trang, lối sống từ các nước phát triển và quay lưng hoặc thiếu hiểu biết về lịch sử, nghệ thuật truyền thống nước nhà như tuồng, chèo, cải lương, ca trù... Việc tiếp thu văn hóa nước ngoài một cách hời hợt, thiếu chắt lọc dễ dẫn đến tình trạng "nửa Tây nửa ta", biến đổi lệch chuẩn các nghi lễ, lễ hội truyền thống để phục vụ thương mại hóa hoặc sự hiếu kỳ.
Cạnh đó, xã hội Việt Nam hiện đại có xu hướng lạm dụng, chêm, đệm tiếng nước ngoài một cách vô căn cứ trong giao tiếp hằng ngày, trong văn bản sáng tác hoặc trên các nền tảng mạng xã hội, làm giảm đi tính trong sáng, tinh tế của tiếng Việt.
Văn hóa phương Tây xâm nhập đã kích thích lối sống hưởng thụ, chạy theo vẻ bề ngoài, coi trọng giá trị vật chất hơn giá trị tinh thần và tình cảm gia đình. Giới trẻ tiếp nhận cách nói năng thiếu tôn trọng các chuẩn mực ứng xử và đạo lý "tôn sư trọng đạo", "kính trên nhường dưới" truyền thống. Họ theo trào lưu "mình là trung tâm" mà bỏ quên tính cộng đồng, tình làng nghĩa xóm và tinh thần sẻ chia vốn là truyền thống quý báu của người Việt.
TS Bàn Tuấn Năng đánh giá, do ảnh hưởng từ sản phẩm giải trí không lành mạnh nên thị hiếu nghệ thuật và quan niệm về cái đẹp của thế hệ trẻ mờ nhạt, gây nguy cơ "lệch hướng". Điều đáng lo ngại là sự áp đảo của các tập đoàn truyền thông-giải trí đa quốc gia, khiến các sản phẩm văn hóa trong nước khó cạnh tranh, thị trường văn hóa nội địa bị thao túng.
Tất cả thực trạng văn hóa yếu kém này làm suy giảm sức đề kháng tư tưởng của cộng đồng, có nguy cơ xâm hại an ninh văn hóa.
3. Để giải trừ nguy cơ thôn tính văn hóa từ các nền văn hóa bên ngoài, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tìm ra giải pháp bền vững để chấn hưng và phát triển văn hóa Việt. Theo các chuyên gia, giải pháp thích hợp và bao trùm nhất là phát triển công nghiệp văn hóa.
Chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa đã được xác định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Điển hình là ngày 27-11-2024, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 162/2024/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035. Cuối năm 2025, Chính phủ ban hành Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nổi bật là đã định hình rõ lộ trình, chỉ tiêu và các ngành trọng tâm (điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, xuất bản, thiết kế, phần mềm giải trí...).
Đặc biệt, ngày 7-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những chủ trương được ưu tiên. Tại thời điểm này, dự án Luật Công nghiệp văn hóa đang được Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI thảo luận và cho ý kiến. Hy vọng khi luật được ban hành sẽ là "đòn bẩy" pháp lý cao nhất, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi dòng phát triển văn hóa Việt Nam hiện đại.
Theo GS, TS Nguyễn Chí Bền, ở bình diện chiến lược thì cánh cửa của con đường phát triển văn hóa Việt Nam đã được mở, nhưng để phát triển công nghiệp văn hóa bền vững, yếu tố cốt lõi nhất nằm ở việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ văn nghệ sĩ hội tụ đầy đủ “tâm, tầm và sự sáng tạo”.
Nhà nước cũng cần có chính sách ưu tiên phát triển đội ngũ quản trị và sản xuất văn hóa chuyên nghiệp để có nhân lực chuyên sâu trong quản lý, sản xuất, truyền thông, vận hành chuỗi cung ứng, bảo vệ bản quyền và đưa sản phẩm thương mại hóa ra thị trường quốc tế.
Để tạo bứt phá về nhân tố con người, GS, TS Nguyễn Chí Bền cho rằng, Nhà nước cần triển khai các giải pháp đột phá như đổi mới giáo dục nghệ thuật gắn liền với tư duy kinh doanh và kỹ năng số; thiết lập cơ chế đãi ngộ, quỹ đầu tư sáng tạo tôn vinh tài năng cùng môi trường thực thi sở hữu trí tuệ nghiêm minh nhằm bảo vệ tối đa thành quả chất xám của các nhà sáng tạo.
Nếu chiến lược vĩ mô đóng vai trò "mở đường" thì đội ngũ sáng tạo và quản lý chất lượng cao chính là "người dẫn lối". Chỉ khi nào Việt Nam đào tạo và quy tụ được những con người am hiểu sâu sắc văn hóa Việt, làm chủ được công nghệ và cơ chế thị trường thì công nghiệp văn hóa Việt Nam mới thực sự bứt phá và trở thành bức tường thành vững chắc bảo vệ an ninh văn hóa dân tộc, giải trừ nguy cơ thôn tính văn hóa.
| An ninh văn hóa là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia, gắn với việc bảo vệ bản sắc dân tộc, các giá trị văn hóa nền tảng và năng lực tự chủ của một quốc gia trước các tác động từ bên ngoài cũng như những nguy cơ suy thoái từ bên trong. |
TRƯƠNG HUYỀN