Tại cơ quan Quân đoàn 14, chúng tôi gặp đồng chí Ngô Văn Học, cán bộ tuyên huấn, sau này là Tổng biên tập Báo Quân khu 1 và được anh cùng các cán bộ tác chiến dẫn lên điểm tựa gần trưa 6-5-1984. Suốt đêm ấy, chúng tôi được thấy hình ảnh cán bộ, chiến sĩ ta trên điểm tựa không ngủ, mắt hướng về biên giới. Nhưng mấy ngày liền đều im ắng, tôi trao đổi với anh Thính sang hướng Cao Lộc, còn anh ở lại. Anh Thính tỏ ý băn khoăn, sợ tôi không biết đường. Tôi nói: "4 năm trước, em là học viên Trường Sĩ quan Chính trị thực tập làm chính trị viên đại đội, từng ở Cao Lộc nên vẫn thuộc đường".

Vậy là ba lô trên vai, toòng teng chiếc máy ảnh Praktica trước ngực, tôi chuyển hướng hành quân. Sau những ngày mất ngủ, chỉ đi bộ đường rừng khoảng 10km mà tôi đã thấm mệt. Thỉnh thoảng tôi lại chạy lên triền dốc quan sát chọn góc chụp toàn cảnh thung lũng rồi xuống triền dốc chụp từng bụi cây, mô đất. Tôi không biết rằng, mình đang đi giữa vùng nguy hiểm. Nơi này được ngụy trang kỹ, tuyệt mật và được canh phòng nhiều tầng. Bởi vậy, từ những vọng gác bí mật, mọi động tác nhô lên, thụp xuống, ngó nghiêng quan sát rồi hí hoáy chụp ảnh của tôi đều không qua được cặp mắt tinh tường của bộ đội ta. Tới khi tôi cởi ba lô, lội xuống suối, vốc nước vào mặt cho tỉnh táo thì giật bắn người bởi tiếng hô: "Giơ tay lên!".

Tôi ngoái đầu lại, gặp ánh mắt nảy lửa của một chiến sĩ cao to, đội mũ sắt, tay lăm lăm khẩu AK báng gập. Còn một chiến sĩ phía sau chạy lên nhanh tay thu luôn ba lô và máy ảnh của tôi. Tôi vội tự giới thiệu, rồi lấy thẻ nhà báo từ túi áo ra nhưng anh chiến sĩ quyết yêu cầu tôi về trung đoàn xử lý. Nghe giọng nói lơ lớ, tôi biết đây là các chiến sĩ người Tày, Nùng. Với họ, tôi đích thị là Việt gian, trá hình nhà báo để chụp ảnh. Họ không tin tôi cũng đúng thôi. Suốt một đoạn đường dài theo dõi, thấy tôi đi đơn lẻ, hành trang và cử chỉ lại rất đáng ngờ. Bởi vậy tôi nói gì họ cũng không nghe.

Chân mỏi nhừ sau nhiều đêm mất ngủ nhưng tôi cố bước đi, trong lòng nung nấu ý nghĩ: "Nếu gặp chỉ huy trung đoàn, sẽ đề nghị phê bình hoặc kỷ luật hai anh chiến sĩ này làm việc máy móc, cảnh giác một cách cứng nhắc, không thèm xem giấy tờ"... Bực mình thì nghĩ vậy nhưng khi tới nơi gặp người quen tôi vui quá quên luôn. Thật tình cờ, đồng chí Phó trung đoàn trưởng về Chính trị đơn vị là người quen cũ, anh học cùng trường sĩ quan, trước tôi một khóa. Bạn bè tay bắt mặt mừng, hôm ấy tôi được đơn vị chiêu đãi bữa cơm điểm tựa thật ấn tượng, có thịt gà rừng hấp lá chanh thơm phức. Sau bữa ăn và một giấc ngủ ngon lành, tôi hoàn toàn lại sức. Trung đoàn cho người dẫn tôi lên các chốt ở khu vực gần bình độ 400. 

leftcenterrightdel

Bức ảnh "Hãy bảo vệ các em!".

Điều thú vị nhất là tôi gặp các em nhỏ đang ngơ ngác đứng trước cửa hầm tránh pháo. Bên cạnh các em là đàn gà con chạy táo tác lạc mẹ. Tôi liền mở máy bấm vài kiểu ảnh. Về tòa soạn, tôi trực tiếp báo cáo Tổng biên tập Trần Công Mân và được nhất trí cho tôi gửi một tấm sang Báo Nhân Dân. Bên ấy đang có cuộc thi ảnh thời sự nghệ thuật. Còn một tấm (hai cháu nhỏ lo lắng, mếu máo ôm cây cột nhà), đồng chí Tổng biên tập ký duyệt cho đăng Báo QĐND ngày hôm sau. Tấm ảnh gửi Báo Nhân Dân tôi chú thích: “Hãy bảo vệ các em!”.

Đồng chí Hà Đăng, khi đó là Phó tổng biên tập Báo Nhân Dân (sau này là Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương), đưa câu chú thích của tôi lên thành tít lớn và viết lời chú thích mới cho tôi. Cả ảnh và chú thích chiếm gần 1/4 trang nhất Báo Nhân Dân số ra ngày 30-5-1984. Ngay chiều hôm đó, theo yêu cầu của Bộ Ngoại giao, nhà báo Hứa Kiểm ở Phòng Thông tấn quân sự (Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam) gặp tôi nhận tấm phim chụp bức ảnh ấy và đưa cho Thông tấn xã Việt Nam in thành 170 ảnh để gửi các nước và tổ chức quốc tế có quan hệ với Việt Nam. Sau đó, tấm ảnh đoạt giải nhất Cuộc thi ảnh thời sự nghệ thuật của Báo Nhân Dân năm 1984, giải nhì Giải ảnh báo chí toàn quốc năm 1984 và nhận bằng Diploma của Tổ chức Nhà báo quốc tế (OIJ) năm 1985.

Bài và ảnh: ĐÀO VĂN SỬ