Tôi và Nguyễn Dũng là sinh viên khóa 15, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (nay là Đại học Bách khoa Hà Nội) lên đường nhập ngũ tháng 9-1971, cùng thuộc biên chế Đại đội Thông tin 18, Trung đoàn 95, Sư đoàn 325. Năm 1972, chúng tôi làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin hữu tuyến đường dài, phục vụ các đơn vị của Trung đoàn chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị. Sau đó, chúng tôi tiếp tục cùng nhau chiến đấu tại mặt trận Tích Tường-Như Lệ, trong giai đoạn trước và sau khi ký Hiệp định Paris.

Nguyễn Dũng là người Hà Nội, sôi nổi, nhiệt huyết; còn tôi xuất thân nông thôn, kín đáo, ít nói. Nhưng cùng từ giảng đường bước ra chiến trường, chúng tôi luôn thương yêu, đồng cảm và gắn bó với nhau. Trong quãng thời gian ở chiến trường, có lúc Nguyễn Dũng ở một bến vượt sông Thạch Hãn, tôi ở bến vượt khác. Dù cách nhau vài cây số, chúng tôi vẫn có điều kiện để hỏi thăm nhau, bởi là lính thông tin. 

Sau ngày đất nước thống nhất, Nguyễn Dũng trở về công tác tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, còn tôi tiếp tục phục vụ trong quân ngũ. Từ thập niên 1980, mỗi lần có dịp đi công tác miền Nam hoặc tranh thủ ngày phép, Nguyễn Dũng lại trở về chiến trường xưa, tìm đến các nghĩa trang để hỏi thông tin về đồng đội đã hy sinh. Những chuyến đi ấy thường diễn ra lặng lẽ, anh tự thu xếp công việc và kinh phí, lần theo từng đầu mối mình có.

leftcenterrightdel

Ông Nguyễn Dũng thời còn ở chiến trường. Ảnh tư liệu 

Có nhiều dịp Tết, mọi người trở về sum họp với gia đình, Dũng lại vào Quảng Trị. Anh mượn xe máy, một mình đi thắp hương cho đồng đội đúng vào đêm Giao thừa. Người ta cho rằng Nguyễn Dũng quá nặng lòng với chuyện đã qua, gọi anh với biệt danh là Dũng "khùng”... Nhưng tôi thấu hiểu tấm lòng của anh, bởi chiến tranh đã khép lại, nhưng vẫn còn những người đồng đội của chúng tôi chưa biết nằm ở đâu. 

Bất kể ngày mưa hay nắng, Nguyễn Dũng vẫn miệt mài kiên trì đi xe ôm, lặn lội qua nhiều nghĩa trang ở vùng đất lửa Quảng Trị. Sự chân thành của anh khiến các cụ quản trang ở các nghĩa trang Hải Lăng, Triệu Phong... và những cán bộ tại địa phương này dần trở thành chỗ quen thân, sẵn sàng chia sẻ thông tin giúp anh tìm đồng đội.

Năm 2006, tôi có dịp cùng Nguyễn Dũng vào Nghĩa trang Liệt sĩ Đông Lương, TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị). Trước mắt chúng tôi là hàng loạt bia mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính, Dũng khóc.

Qua nhiều năm tìm kiếm, anh rút ra kinh nghiệm: “Muốn tìm được người đã khuất, trước tiên phải tìm được người sống”. Người sống mà anh nhắc tới là những đồng đội từng chiến đấu cùng đại đội, cùng phân đội hoặc ở gần vị trí họ hy sinh. Bên cạnh đó, phải có danh sách liệt sĩ của Trung đoàn để đối chiếu với thông tin trên bia mộ, hồ sơ đơn vị và tài liệu tại địa phương. Sau mỗi chuyến đi, anh cẩn thận ghi chép, so sánh, đối chiếu từng trường hợp. Chỗ nào thông tin không khớp, anh tiếp tục hỏi nhân chứng, trao đổi với đơn vị hoặc trực tiếp đến cơ quan chính sách để xin hồ sơ.

Sau mỗi chuyến đi, Dũng ngồi làm việc đến khuya, lần từng cái tên, quê quán, đơn vị, địa điểm hy sinh. Anh thường giục tôi học máy vi tính để cùng làm, bởi công việc ấy cần nhiều người chung sức và càng có thông tin đối chiếu càng tránh được nhầm lẫn.

Nhiều năm theo Nguyễn Dũng đi tìm đồng đội còn nằm lại chiến trường, có những trường hợp lần ra được thông tin và giúp gia đình tìm lại người thân, nhưng cũng có những lời hứa còn dang dở và câu chuyện mà tôi không thể nào quên. Một trong số đó là câu chuyện tìm mộ liệt sĩ Hoàng Văn Cổn, quê ở Hải Dương, thuộc Đại đội 12 hỏa lực, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 95, hy sinh tại Quảng Trị. Do quê quán trên bia mộ ghi nhầm thành Hải Phòng, giấy báo tử không đến được gia đình. Suốt hàng chục năm, người thân không biết anh đã có phần mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Hải Phú, nay thuộc xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

leftcenterrightdel

Ông Nguyễn Dũng (thứ ba, từ trái sang) cùng các đồng đội đặt hoa tại tượng đài “Cán bộ và sinh viên xếp bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ quốc" năm 2012. Ảnh do cựu chiến binh NGUYỄN LƯƠNG THÁI cung cấp 

Sau khi tìm được thông tin, Nguyễn Dũng kết nối với em trai của liệt sĩ là anh Hoàng Văn Hùng. Do anh không đủ sức khỏe đi cùng, tôi thay anh đưa gia đình vào Quảng Trị làm thủ tục cất bốc. Dù vậy, Dũng vẫn chu đáo liên hệ đồng đội cũ từ Cẩm Phả (Quảng Ninh) về dự lễ đón nhận. Trước khi cất bốc, tôi gọi điện hỏi Dũng về hoàn cảnh hy sinh của anh Cổn. Dũng kể, anh Cổn là xạ thủ DKZ 82, hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. Nghe chuyện, người nhà lo lắng, sợ sau hàng chục năm hài cốt không còn nguyên vẹn... Thế nhưng, thật may mắn, trong khoảng 3-4kg đất đào lên vẫn còn những mảnh xương nhỏ. Chúng tôi cẩn thận thu gom, đưa hài cốt anh về quê.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có những cuộc hội ngộ đầy xúc động với thân nhân liệt sĩ. Một lần, tôi cùng Dũng trở lại khu vực xã Triệu Ái (nay là xã Ái Tử, tỉnh Quảng Trị) tìm những đồng đội của Đại đội Thông tin 18, trong đó có anh Nguyễn Xuân Sinh, Chính trị viên Đại đội, hy sinh ngày 9-9-1972. Sau khi hỏi thăm tại địa phương, chúng tôi biết được, gia đình anh Sinh đã cất bốc mộ về quê, dù bia mộ tại nghĩa trang vẫn còn.

Từ thông tin ấy, tôi cùng Dũng tìm về Thanh Liêm, Hà Nam, mong thắp cho thủ trưởng cũ một nén hương, nhưng gia đình đã chuyển đi nơi khác. Sau nhiều lần hỏi thăm, chúng tôi cuối cùng tìm được anh Lý-người con trai cả của anh. Gặp những người đồng đội của bố, Lý rất xúc động, coi chúng tôi như người thân và hỏi han những câu chuyện chiến đấu năm xưa.

Nhưng cũng có những câu chuyện không khỏi đau lòng. Đó là chuyện đi tìm mộ liệt sĩ Nguyễn Đạt Sử, quê ở Khoái Châu, Hưng Yên, hy sinh ngày 5-12-1972 tại Quảng Trị. Chúng tôi đi nhiều nơi, lần theo những thông tin có được, gặp người từng tham gia quy tập, rồi lần đến cả một nguyên lãnh đạo xã Triệu Ái cũ còn giữ cuốn sổ tay ghi lại một đợt tập kết khoảng 40 liệt sĩ về thôn Xuân Kiên. Từ đó, chúng tôi nhận định Sử có thể nằm trong nhóm liệt sĩ này, được quy tập tới nghĩa trang xã Triệu Ái nhưng nằm trong số mộ chưa xác định được danh tính. Thế nhưng, khi tra cứu dữ liệu, hồ sơ vẫn ghi Sử là “mất tích”, khiến chúng tôi không khỏi trăn trở. Đến khi Nguyễn Dũng qua đời, chúng tôi vẫn chưa thể tìm ra Sử. Bố mẹ liệt sĩ và cả người em từng đi cùng chúng tôi trong nhiều chuyến tìm kiếm đều đã qua đời. Đó là điều có lẽ tới cuối đời, Dũng luôn day dứt.

Điều khiến tôi cảm phục nhất ở Nguyễn Dũng là anh đã dành gần như cả phần đời còn lại để đi tìm đồng đội. Với Dũng, đó không phải công việc để nhận thù lao hay mong được người khác ghi nhận, mà là cách tri ân những người đã hy sinh để mình được sống trở về. Tiếc là anh ra đi sớm. Tôi cứ nghĩ, nếu góp sức trong chiến dịch 500 ngày đêm, hẳn anh cũng là một thành viên đắc lực.

Ngày nay, nhiều sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội vẫn mang hoa đến tượng đài mỗi dịp tốt nghiệp. Ít ai biết, người khởi đầu việc làm ấy là thầy giáo-CCB Nguyễn Dũng. Từ ngày trường dựng tượng đài “Cán bộ và sinh viên xếp bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ quốc”, ngày nào anh cũng mua hoa mang đến đặt. Dần dần, việc ấy trở thành một nét đẹp vẫn đang được sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tiếp nối.

QUẢNG AN (ghi theo lời kể của cựu chiến binh NGUYỄN LƯƠNG THÁI)